20 bài đọc trình độ TOPIK II thuộc chủ đề “Công việc”, mỗi bài có bản dịch từng câu và câu hỏi đọc hiểu.
🚍 Bác tài của chuyến xe đầu tiên
쉰다섯 살인 최 기사님은 십오 년째 우리 동네에서 새벽 첫차를 운전하세요.
Bác tài Choi năm nay năm mươi lăm tuổi, đã lái chuyến xe đầu tiên lúc rạng sáng ở khu phố chúng tôi được mười lăm năm.
새벽 세 시 반에 일어나 네 시 반에 차고지를 출발하는 것이 기사님의 하루 시작이에요.
Một ngày của bác bắt đầu bằng việc thức dậy lúc ba giờ rưỡi sáng và xuất phát từ bãi xe lúc bốn giờ rưỡi.
첫차에는 시장으로 가는 상인들과 빌딩 청소를 하러 가는 분들이 주로 타요.
Chuyến xe đầu tiên chủ yếu chở những người buôn bán đi chợ và những người đi dọn dẹp các tòa nhà.
매일 같은 시간에 같은 얼굴을 만나다 보니 이제는 서로 안부를 묻는 사이가 됐대요.
Nghe nói ngày nào cũng gặp những gương mặt quen vào cùng một giờ nên giờ họ đã thành những người hỏi thăm nhau.
누가 그렇게 일찍 일어나는 게 힘들지 않으냐면 기사님은 남들보다 하루를 먼저 연다는 보람이 있다고 대답해요.
Ai hỏi dậy sớm như vậy không vất vả sao, bác tài đáp rằng được mở đầu ngày mới sớm hơn mọi người là một niềm vui.
오후 한 시면 일이 끝나서 저녁에는 손주들과 시간을 보낼 수 있는 것도 좋은 점이래요.
Bác bảo một điểm tốt nữa là một giờ chiều đã xong việc nên buổi tối có thể dành thời gian cho các cháu.
물론 겨울 새벽에 눈이 오면 길이 미끄러워서 평소보다 훨씬 긴장하게 된대요.
Tất nhiên, những sáng sớm mùa đông có tuyết rơi, đường trơn nên bác căng thẳng hơn bình thường rất nhiều.
기사님은 몸이 허락하는 동안은 첫차의 운전대를 놓고 싶지 않다고 말해요.
Bác tài nói chừng nào sức khỏe còn cho phép, bác vẫn không muốn rời tay lái của chuyến xe đầu tiên.
Ai là người chủ yếu đi chuyến xe đầu tiên?
- Người buôn bán ở chợ và những người đi dọn dẹp. ✓
- Học sinh đi học.
- Khách du lịch đi chơi xa.
- Nhân viên văn phòng đi làm.
Vì sao bác tài có thể dành buổi tối cho các cháu?
- Vì bác chỉ làm việc vào cuối tuần.
- Vì các cháu đi chuyến xe đầu tiên.
- Vì một giờ chiều là xong việc. ✓
- Vì bác chỉ làm ba ngày một tuần.
Điều nào sau đây đúng với nội dung bài đọc?
- Bác tài định sắp nghỉ việc.
- Bác tài và hành khách chuyến đầu là những người hỏi thăm nhau. ✓
- Bác tài nói dậy sớm rất khổ sở.
- Chuyến xe đầu tiên xuất phát lúc sáu giờ sáng.
📋 Trưởng nhóm hỏi han khối lượng công việc
우리 팀은 작년까지만 해도 야근이 당연한 분위기였어요.
Cho đến năm ngoái, nhóm chúng tôi vẫn có bầu không khí coi làm thêm giờ là chuyện đương nhiên.
올해 새로 온 팀장님은 매주 금요일 오후에 팀원들의 자리를 한 번씩 찾아오세요.
Trưởng nhóm mới đến năm nay chiều thứ Sáu nào cũng ghé qua chỗ ngồi của từng thành viên.
지난주에도 팀장님은 제 책상 옆에 앉아 요즘 일이 너무 많으냐면서 제 업무 목록을 함께 살펴보셨어요.
Tuần trước, trưởng nhóm cũng ngồi cạnh bàn tôi, hỏi dạo này có nhiều việc quá không rồi cùng tôi xem danh sách công việc.
저는 조금 망설이다가 마감이 겹친 일이 세 개나 있다고 솔직하게 말씀드렸어요.
Tôi ngập ngừng một chút rồi thành thật nói rằng có tới ba việc trùng hạn chót.
그러자 팀장님은 그중 하나를 다른 팀원에게 맡기고 다른 하나는 마감을 일주일 미뤄 주셨어요.
Thế là trưởng nhóm giao một việc trong số đó cho thành viên khác và lùi hạn chót của một việc nữa thêm một tuần.
처음에는 제가 능력이 없어 보일까 봐 걱정했지만 오히려 일의 질이 좋아졌어요.
Lúc đầu tôi lo mình trông sẽ như người kém năng lực, nhưng ngược lại chất lượng công việc lại tốt lên.
이제 우리 팀에는 문제가 생기기 전에 서로 힘든 점을 말하는 문화가 생겼어요.
Giờ đây nhóm chúng tôi đã có văn hóa chia sẻ với nhau những khó khăn trước khi vấn đề xảy ra.
야근은 줄었는데도 성과는 예전보다 나아졌다는 평가를 받았어요.
Dù làm thêm giờ ít đi nhưng chúng tôi lại được đánh giá là thành tích tốt hơn trước.
Trưởng nhóm ghé qua chỗ ngồi của các thành viên vào khi nào?
- Ghé qua mỗi sáng trước cuộc họp.
- Chỉ ghé qua khi hạn chót bị trùng.
- Ghé qua mỗi tháng một lần vào buổi tối.
- Ghé qua mỗi chiều thứ Sáu. ✓
Lúc đầu người viết đã lo lắng điều gì?
- Lo mình trông như người kém năng lực. ✓
- Lo trưởng nhóm sẽ nổi giận.
- Lo đồng nghiệp sẽ từ chối nhận việc.
- Lo sẽ phải làm thêm giờ nhiều hơn nữa.
Điều nào sau đây đúng với nội dung bài đọc?
- Người viết nói mình có ít việc.
- Từ khi trưởng nhóm mới đến, làm thêm giờ tăng lên.
- Trưởng nhóm đã làm hết mọi việc thay người viết.
- Trưởng nhóm đã lùi hạn chót cho người viết. ✓
🗓️ Chọn làm việc bốn ngày một tuần
수아 씨의 회사는 올해부터 원하는 직원에게 주 사 일 근무를 허용했어요.
Từ năm nay, công ty của Sua cho phép những nhân viên có nguyện vọng làm việc bốn ngày một tuần.
대신 일하는 날이 하루 줄어드는 만큼 월급도 조금 줄어들어요.
Bù lại, ngày làm việc giảm đi một ngày thì lương cũng giảm đi một chút.
수아 씨는 오래 고민한 끝에 주 사 일 근무를 신청했어요.
Sau thời gian dài cân nhắc, Sua đã đăng ký làm việc bốn ngày một tuần.
주변 사람들은 월급이 줄어도 정말 괜찮으냐지만 수아 씨에게는 쉬는 하루가 돈보다 소중해요.
Người xung quanh hỏi lương giảm thật sự không sao à, nhưng với Sua, một ngày nghỉ quý hơn tiền bạc.
쉬는 수요일에는 도서관에 가서 오랫동안 미뤄 둔 자격증 공부를 해요.
Vào ngày thứ Tư được nghỉ, cô đến thư viện học lấy chứng chỉ mà mình đã trì hoãn bấy lâu.
가끔은 동료들보다 뒤처질까 봐 불안한 마음이 들기도 해요.
Đôi khi cô cũng thấy bất an vì sợ mình sẽ tụt lại so với đồng nghiệp.
하지만 일하는 날에는 전보다 훨씬 집중이 잘돼서 일의 양은 크게 줄지 않았어요.
Nhưng vào những ngày đi làm, cô tập trung tốt hơn trước nhiều nên khối lượng công việc không giảm đi bao nhiêu.
수아 씨는 적은 월급으로 시간을 산 셈이라며 지금의 선택에 만족해요.
Sua nói như vậy là mình đã dùng đồng lương ít hơn để mua thời gian, và cô hài lòng với lựa chọn hiện tại.
Sua làm gì vào ngày nghỉ?
- Lên công ty làm cho xong việc tồn đọng.
- Học lấy chứng chỉ ở thư viện. ✓
- Đi du lịch cùng đồng nghiệp.
- Làm thêm ở nhà để kiếm tiền.
Vì sao khối lượng công việc của Sua không giảm đi nhiều?
- Vì cô làm việc công ty cả vào ngày nghỉ.
- Vì đồng nghiệp giúp cô làm việc.
- Vì cô tập trung hơn vào những ngày đi làm. ✓
- Vì lương giảm nên cô đã nhận thêm việc.
Điều nào sau đây đúng với nội dung bài đọc?
- Nếu làm việc bốn ngày một tuần thì lương sẽ giảm. ✓
- Tất cả nhân viên công ty đều làm việc bốn ngày một tuần.
- Sua đã đăng ký ngay mà không cần cân nhắc.
- Sua hối hận về lựa chọn của mình.
🏖️ Dùng hết từng ngày phép
저는 입사한 뒤 칠 년 동안 연차를 절반도 쓰지 못했어요.
Trong bảy năm kể từ khi vào công ty, tôi chưa dùng được dù chỉ một nửa số ngày phép năm.
바쁜 동료들에게 미안해서 휴가 이야기를 꺼내기가 늘 어려웠어요.
Vì thấy có lỗi với các đồng nghiệp bận rộn nên tôi luôn khó mở lời xin nghỉ phép.
그런데 작년 말에 남은 연차가 그대로 사라지는 것을 보고 마음이 허전했어요.
Nhưng cuối năm ngoái, nhìn số ngày phép còn lại cứ thế mất đi, lòng tôi thấy trống trải.
그래서 새해 첫날 수첩에 “올해는 연차를 하루도 남기지 않고 다 쓰련다.”라고 적었어요.
Vì thế vào ngày đầu năm mới, tôi đã ghi vào sổ tay: “Năm nay mình sẽ dùng hết ngày phép, không để thừa một ngày nào.”
저는 일월부터 휴가 계획을 미리 세우고 팀원들과 일정을 나누었어요.
Ngay từ tháng Một, tôi đã lên kế hoạch nghỉ phép trước và chia sẻ lịch với các thành viên trong nhóm.
미리 알리니 업무를 넘겨받는 동료들도 준비할 시간이 충분했어요.
Vì báo trước nên các đồng nghiệp nhận bàn giao công việc cũng có đủ thời gian chuẩn bị.
올여름에는 처음으로 일주일 동안 휴대폰을 끄고 부모님과 제주도를 여행했어요.
Mùa hè năm nay, lần đầu tiên tôi tắt điện thoại suốt một tuần và đi du lịch đảo Jeju cùng bố mẹ.
돌아와 보니 회사는 제가 없어도 아무 문제 없이 잘 돌아가고 있었어요.
Khi trở về, tôi thấy công ty vẫn vận hành tốt mà không gặp vấn đề gì dù không có tôi.
Người viết đã quyết tâm điều gì vào ngày đầu năm mới?
- Quyết định nhường ngày phép cho đồng nghiệp.
- Quyết định dùng hết ngày phép năm. ✓
- Quyết định làm việc không nghỉ phép.
- Quyết định nghỉ việc ở công ty.
Vì sao các đồng nghiệp có thể chuẩn bị nhận bàn giao công việc?
- Vì người viết vẫn nghe điện thoại cả trong kỳ nghỉ.
- Vì trưởng nhóm đã tuyển nhân viên mới.
- Vì người viết đã báo trước lịch nghỉ phép. ✓
- Vì mùa hè công ty hầu như không có việc.
Điều nào sau đây đúng với nội dung bài đọc?
- Năm nào người viết cũng dùng hết ngày phép.
- Người viết đã đi Jeju cùng đồng nghiệp.
- Người viết làm việc qua điện thoại trong kỳ nghỉ.
- Ngay cả khi người viết vắng mặt, công ty vẫn vận hành tốt. ✓
👶 Trở lại sau kỳ nghỉ chăm con
태호 씨는 딸이 태어난 뒤 일 년 동안 육아 휴직을 했어요.
Sau khi con gái chào đời, Taeho đã nghỉ chăm con một năm.
휴직을 마치고 회사에 돌아온 첫날, 사무실은 낯선 것투성이였어요.
Ngày đầu tiên trở lại công ty sau kỳ nghỉ, văn phòng toàn là những thứ xa lạ.
자리 배치도 바뀌었고 처음 보는 동료도 여러 명 있었어요.
Cách sắp xếp chỗ ngồi đã thay đổi, và có nhiều đồng nghiệp lần đầu anh gặp.
달력을 보던 태호 씨는 옆자리 동료에게 “주간 회의가 원래 월요일 아침이 아니었던지요?”라고 물었어요.
Đang xem lịch, Taeho hỏi đồng nghiệp ngồi bên cạnh: “Họp tuần vốn là vào sáng thứ Hai cơ mà nhỉ?”
동료는 웃으면서 회의가 수요일 오후로 바뀐 지 벌써 반년이 됐다고 알려 주었어요.
Người đồng nghiệp cười và cho biết cuộc họp đã chuyển sang chiều thứ Tư được nửa năm rồi.
태호 씨는 처음 몇 주 동안 바뀐 업무 방식을 익히느라 정신이 없었어요.
Trong vài tuần đầu, Taeho bận tối mắt để làm quen với cách làm việc mới.
그래도 팀원들이 모르는 것을 차근차근 알려 준 덕분에 금방 적응할 수 있었어요.
Dù vậy, nhờ các thành viên trong nhóm kiên nhẫn chỉ cho những điều anh chưa biết, anh đã nhanh chóng thích nghi.
태호 씨는 육아와 일을 함께 하는 생활이 힘들지만 둘 다 소중하다고 말해요.
Taeho nói rằng cuộc sống vừa chăm con vừa đi làm tuy vất vả nhưng cả hai đều quý giá.
Bây giờ họp tuần diễn ra khi nào?
- Vào chiều thứ Tư. ✓
- Vào sáng thứ Hai.
- Vào chiều thứ Sáu.
- Vào sáng thứ Tư.
Vì sao Taeho có thể nhanh chóng thích nghi với công ty?
- Vì công ty hoàn toàn không thay đổi.
- Vì anh vẫn tham gia họp trong thời gian nghỉ.
- Vì các thành viên trong nhóm đã kiên nhẫn chỉ cho anh. ✓
- Vì cách sắp xếp chỗ ngồi vẫn như trước.
Nội dung nào đúng với bài đọc?
- Taeho đã chủ trì cuộc họp vào ngày đầu đi làm lại.
- Taeho đã nghỉ chăm con một năm. ✓
- Taeho đã biết hết tất cả đồng nghiệp.
- Taeho nói rằng chăm con dễ hơn đi làm.
🌊 Workation bên bờ biển
지난달 저는 회사의 워케이션 제도를 이용해 강원도 바닷가 마을에서 일주일을 보냈어요.
Tháng trước, tôi đã tận dụng chế độ workation của công ty để ở một tuần tại một làng ven biển ở tỉnh Gangwon.
워케이션은 일과 휴가를 합친 말로, 평소처럼 일하면서 다른 곳에서 지내는 거예요.
Workation là từ ghép giữa công việc và kỳ nghỉ, tức là vừa làm việc như bình thường vừa sống ở một nơi khác.
처음에는 바다를 보면 일이 손에 안 잡힐 거라고 생각했어요.
Lúc đầu tôi nghĩ nhìn thấy biển thì sẽ chẳng thể tập trung làm việc.
그런데 직접 해 보니 파도 소리를 들으며 일하는 게 생각보다 집중이 잘되던걸요.
Thế nhưng khi thử thật thì tôi thấy vừa nghe tiếng sóng vừa làm việc lại tập trung tốt hơn mình nghĩ đấy.
오전에는 공유 사무실에서 회의에 참여하고 오후 여섯 시가 되면 바로 노트북을 덮었어요.
Buổi sáng tôi tham gia họp ở văn phòng chia sẻ, và cứ đến sáu giờ chiều là tôi gập máy tính lại ngay.
저녁에는 해변을 걷거나 동네 식당에서 처음 보는 생선 요리를 먹어 보았어요.
Buổi tối tôi đi dạo trên bãi biển hoặc ăn thử những món cá chưa từng thấy ở các quán ăn trong làng.
서울로 돌아온 뒤에도 퇴근 후에 산책하는 습관이 생겼어요.
Ngay cả sau khi trở về Seoul, tôi vẫn giữ thói quen đi dạo sau giờ làm.
장소를 바꾸는 것만으로도 일하는 방식이 달라질 수 있다는 걸 알게 됐어요.
Tôi nhận ra rằng chỉ cần thay đổi nơi chốn thôi cũng có thể thay đổi cách làm việc.
Trong thời gian workation, người viết đã làm gì vào buổi sáng?
- Đi dạo trên bãi biển và nghe tiếng sóng.
- Ăn món cá ở quán ăn trong làng.
- Đến văn phòng ở Seoul để làm việc.
- Tham gia họp ở văn phòng chia sẻ. ✓
Người viết đã nhận ra điều gì mới khi đi workation?
- Dù ở bên biển vẫn có thể tập trung làm việc tốt. ✓
- Nhìn thấy biển thì không thể tập trung làm việc.
- Một tuần là quá ngắn cho workation.
- Không thể vừa nghỉ ngơi vừa làm việc.
Điều người viết muốn nói nhất là gì?
- Ở làng ven biển thì phải ăn món cá.
- Làm việc ở văn phòng hiệu quả hơn workation.
- Sau giờ làm, nghỉ ngơi cần hơn đi dạo.
- Thay đổi nơi chốn có thể thay đổi cách làm việc. ✓
📱 Từ nhân viên ngân hàng đến người dạy kỹ năng số cho người cao tuổi
혜린 씨는 십이 년 동안 은행 창구에서 일했어요.
Hyerin đã làm việc ở quầy giao dịch ngân hàng suốt mười hai năm.
그동안 스마트폰이 서툴러 은행 업무를 어려워하는 어르신들을 자주 만났어요.
Trong thời gian đó, cô thường gặp những người cao tuổi gặp khó khăn với các giao dịch ngân hàng vì không rành điện thoại thông minh.
그분들을 도와드릴 때 혜린 씨는 이상하게도 가장 큰 보람을 느꼈어요.
Lạ thay, chính lúc giúp đỡ những người ấy, Hyerin lại cảm thấy ý nghĩa nhất.
결국 그녀는 은행을 그만두고 복지관에서 어르신들에게 스마트폰 사용법을 가르치기 시작했어요.
Cuối cùng, cô nghỉ việc ở ngân hàng và bắt đầu dạy người cao tuổi cách dùng điện thoại thông minh tại trung tâm phúc lợi xã hội.
혜린 씨에게 이번 결정은 직장을 옮긴 것이라기보다 삶의 방향을 바꾼 것이었어요.
Với Hyerin, quyết định lần này không hẳn là chuyển việc mà là thay đổi hướng đi của cuộc đời.
월급은 줄었지만 수업이 끝난 뒤 어르신들이 건네는 감사 인사가 큰 힘이 돼요.
Lương tuy giảm nhưng những lời cảm ơn của các cụ sau giờ học là nguồn động lực lớn với cô.
요즘 그녀는 저녁 시간에 가족과 함께 밥을 먹는 날도 많아졌어요.
Dạo này, những buổi tối cô được ăn cơm cùng gia đình cũng nhiều hơn.
혜린 씨는 좋아하는 일을 찾으려면 먼저 자신이 언제 기쁜지 살펴봐야 한다고 말해요.
Hyerin nói rằng muốn tìm được công việc mình yêu thích thì trước hết phải để ý xem khi nào mình thấy vui.
Hiện nay Hyerin làm công việc gì?
- Tư vấn cho khách hàng tại quầy ngân hàng.
- Dạy người cao tuổi dùng điện thoại thông minh. ✓
- Nấu ăn cho người cao tuổi ở trung tâm phúc lợi.
- Làm thủ tục ngân hàng thay cho người cao tuổi.
Lý do phù hợp nhất khiến Hyerin nghỉ việc ở ngân hàng là gì?
- Vì lương ở ngân hàng quá thấp.
- Vì cô không rành điện thoại thông minh.
- Vì cô thấy ý nghĩa khi giúp đỡ người cao tuổi. ✓
- Vì gia đình hết sức khuyên cô chuyển việc.
Nội dung nào đúng với bài đọc?
- Sau khi chuyển việc, lương của Hyerin đã giảm. ✓
- Hyerin đã làm ở ngân hàng hai mươi năm.
- Dạo này Hyerin khó có dịp ăn tối cùng gia đình.
- Hyerin thích công việc ngân hàng nhất.
🍲 Một giờ nghỉ trưa thực sự
성민 씨는 늘 점심을 책상 앞에서 김밥 한 줄로 때우곤 했어요.
Seongmin thường ăn trưa qua loa bằng một cuộn kimbap ngay tại bàn làm việc.
점심시간에도 메일을 확인하느라 제대로 쉬어 본 적이 없었어요.
Vì giờ nghỉ trưa cũng mải kiểm tra email nên anh chưa bao giờ được nghỉ ngơi đàng hoàng.
어느 날 동료의 권유로 회사 근처의 작은 국밥집에 따라가게 되었어요.
Một ngày nọ, theo lời rủ của đồng nghiệp, anh đi theo đến một quán cơm canh nhỏ gần công ty.
성민 씨가 휴대폰을 보면서 급하게 숟가락을 들자 주인 할머니가 “체하겠네, 천천히 먹으쇼.”라고 하셨어요.
Khi Seongmin vừa nhìn điện thoại vừa vội vàng cầm thìa lên, bà chủ quán nói: “Ăn thế dễ đầy bụng lắm, ăn từ từ thôi.”
그 말에 성민 씨는 휴대폰을 주머니에 넣고 오랜만에 음식 맛을 천천히 느꼈어요.
Nghe vậy, Seongmin cất điện thoại vào túi và lần đầu tiên sau một thời gian dài từ từ cảm nhận hương vị món ăn.
그 뒤로 그는 일주일에 세 번은 밖에 나가서 점심을 먹기로 했어요.
Từ đó, anh quyết định mỗi tuần ít nhất ba lần ra ngoài ăn trưa.
짧은 시간이라도 자리에서 벗어나니 오후에 머리가 한결 맑아졌어요.
Dù chỉ trong thời gian ngắn, rời khỏi chỗ ngồi giúp đầu óc anh buổi chiều minh mẫn hơn hẳn.
이제 성민 씨는 점심시간도 일을 잘하기 위해 꼭 필요한 시간이라고 생각해요.
Giờ đây, Seongmin nghĩ rằng giờ nghỉ trưa cũng là khoảng thời gian rất cần thiết để làm việc tốt.
Bà chủ quán bảo Seongmin làm gì?
- Bảo anh xem điện thoại.
- Bảo anh ăn từ từ. ✓
- Bảo anh ăn kimbap.
- Bảo anh ăn nhanh rồi đi.
Vì sao buổi chiều đầu óc Seongmin trở nên minh mẫn hơn?
- Vì anh ăn trưa nhanh tại bàn làm việc.
- Vì anh đã kiểm tra hết email vào giờ trưa.
- Vì anh rời khỏi chỗ ngồi để nghỉ vào giờ trưa. ✓
- Vì bà chủ quán đưa thuốc cho anh.
Nội dung nào đúng với bài đọc?
- Seongmin ngày nào cũng ra ngoài ăn trưa.
- Seongmin vốn đã nghỉ ngơi tốt trong giờ trưa.
- Bà chủ quán cơm canh là đồng nghiệp của Seongmin.
- Seongmin đã đi theo đồng nghiệp đến quán cơm canh. ✓
🔕 Không nhắn tin công việc sau giờ làm
예전에 저는 밤 열한 시에도 업무 메신저 알림을 받곤 했어요.
Trước đây, tôi thường nhận được thông báo từ ứng dụng nhắn tin công việc ngay cả lúc mười một giờ đêm.
답장을 늦게 하면 눈치가 보여서 잠들기 직전까지 휴대폰을 손에서 놓지 못했어요.
Trả lời muộn thì ngại với mọi người nên tôi cứ cầm điện thoại trên tay đến tận trước khi ngủ.
그러다 올봄 회사가 퇴근 후 업무 연락을 금지하는 규칙을 만들었어요.
Rồi mùa xuân năm nay, công ty đặt ra quy định cấm liên lạc công việc sau giờ làm.
급한 일이 아니면 저녁 일곱 시 이후에는 메시지를 보내지 말자는 약속이었어요.
Đó là lời hứa rằng nếu không phải việc gấp thì sau bảy giờ tối sẽ không gửi tin nhắn.
처음에는 정말 지켜질까 의심했지만 팀장님부터 이 규칙을 철저히 지키셨어요.
Lúc đầu tôi còn nghi ngờ liệu có thật sự được tuân thủ không, nhưng chính trưởng nhóm đã nghiêm túc thực hiện quy định này trước tiên.
요즘 저녁에 제 휴대폰으로 오는 연락이라고는 가족과 친구들의 문자뿐이에요.
Dạo này buổi tối, tin nhắn đến điện thoại tôi chỉ toàn là của gia đình và bạn bè.
덕분에 잠을 푹 자게 되었고 아침에 출근하는 발걸음도 가벼워졌어요.
Nhờ vậy, tôi ngủ ngon giấc hơn và bước chân đi làm mỗi sáng cũng nhẹ nhàng hơn.
쉬는 시간을 지켜 주는 것이 결국 일을 더 잘하게 만든다는 것을 느끼고 있어요.
Tôi đang cảm nhận được rằng giữ gìn thời gian nghỉ ngơi rốt cuộc sẽ giúp làm việc tốt hơn.
Công ty đã đặt ra quy định gì?
- Không liên lạc công việc sau giờ làm. ✓
- Buổi tối để điện thoại lại công ty.
- Trả lời tin nhắn trong vòng một giờ.
- Chỉ trưởng nhóm được liên lạc vào buổi tối.
Lý do phù hợp nhất khiến quy định được tuân thủ tốt là gì?
- Vì vi phạm quy định sẽ bị giảm lương.
- Vì nhân viên tắt điện thoại vào buổi tối.
- Vì chính trưởng nhóm nghiêm túc tuân thủ quy định trước tiên. ✓
- Vì công ty hoàn toàn không có việc gấp.
Nội dung nào đúng với bài đọc?
- Người viết đến giờ vẫn trả lời tin nhắn lúc đêm khuya.
- Dạo này người viết không nhận liên lạc công việc vào buổi tối. ✓
- Quy định này được đặt ra vào mùa thu năm ngoái.
- Người viết đã tin vào quy định này ngay từ đầu.
🪴 Ngày cuối cùng trước khi học cao học
오늘은 제가 팔 년 동안 다닌 회사에 출근하는 마지막 날이었어요.
Hôm nay là ngày cuối cùng tôi đi làm ở công ty mà tôi đã gắn bó tám năm.
저는 다음 달부터 대학원에서 환경 공학을 공부하기로 했어요.
Từ tháng sau, tôi sẽ học ngành kỹ thuật môi trường ở bậc cao học.
오랫동안 꿈꿔 온 일이지만 안정적인 월급을 포기하는 것은 쉽지 않았어요.
Đó là điều tôi mơ ước từ lâu, nhưng từ bỏ mức lương ổn định không hề dễ dàng.
오후에 짐을 정리하고 나니 책상 위에 남은 것이라곤 작은 화분 하나뿐이었어요.
Sau khi dọn dẹp đồ đạc vào buổi chiều, thứ duy nhất còn lại trên bàn là một chậu cây nhỏ.
그 화분은 입사 첫날 선배가 선물해 준 거라서 버릴 수가 없었어요.
Chậu cây đó là món quà tiền bối tặng tôi vào ngày đầu tiên đi làm nên tôi không nỡ vứt đi.
퇴근할 때 동료들이 복도에 모여 박수를 치며 새로운 시작을 응원해 주었어요.
Lúc tan làm, các đồng nghiệp tụ tập ở hành lang vỗ tay cổ vũ cho khởi đầu mới của tôi.
저는 화분을 품에 안고 회사 건물을 나서며 조금 울었어요.
Tôi ôm chậu cây trong lòng bước ra khỏi tòa nhà công ty và khóc một chút.
두렵기도 하지만 이제는 제가 정말 원하는 길을 걸어 보려고 해요.
Tuy cũng sợ, nhưng giờ tôi sẽ thử bước đi trên con đường mình thật sự mong muốn.
Vì sao người viết nghỉ việc ở công ty?
- Để chuyển sang công ty khác.
- Vì lương quá thấp.
- Vì quan hệ với tiền bối không tốt.
- Để học cao học. ✓
Vì sao người viết không nỡ vứt chậu cây đi?
- Vì đó là quà tiền bối tặng vào ngày đầu đi làm. ✓
- Vì đó là quà đồng nghiệp tặng vào ngày cuối cùng.
- Vì đó là đồ sẽ dùng khi học cao học.
- Vì chậu cây rất đắt tiền.
Nội dung nào đúng với bài đọc?
- Người viết đã làm ở công ty hai năm.
- Người viết để chậu cây lại trên bàn rồi đi.
- Người viết đã dễ dàng từ bỏ tiền lương.
- Đồng nghiệp đã cổ vũ khởi đầu mới của người viết. ✓
👵 Chuyện bà kể về công việc ngày xưa
지난 추석에 저는 할머니께 요즘 회사 일이 너무 힘들다고 투덜거렸어요.
Tết Trung thu vừa rồi, tôi càu nhàu với bà rằng dạo này công việc ở công ty vất vả quá.
할머니는 웃으시며 할아버지가 젊었을 때 이야기를 들려주셨어요.
Bà mỉm cười kể cho tôi nghe chuyện hồi ông còn trẻ.
“네 할아버지는 결혼하기 전에 공장에서 한 달에 겨우 이틀 쉬었더란다.”라고 하셨어요.
Bà nói: “Nghe đâu trước khi cưới, ông con làm ở nhà máy một tháng chỉ được nghỉ có hai ngày.”
그 시절에는 휴가라는 말도 낯설었고 밤늦게까지 일하는 것이 당연했대요.
Nghe nói thời đó ngay cả từ “nghỉ phép” cũng còn xa lạ, và làm việc đến tận khuya là chuyện đương nhiên.
할머니 말씀을 들으니 지금의 제 불평이 조금 부끄러워졌어요.
Nghe bà kể, tôi thấy hơi xấu hổ về những lời than phiền của mình.
하지만 할머니는 그때가 좋았던 게 아니라 모두가 너무 고생했다고 덧붙이셨어요.
Nhưng bà nói thêm rằng thời đó không phải là tốt đẹp gì, mà là ai cũng quá vất vả.
그리고 일도 중요하지만 가족과 보내는 시간을 꼭 지키라고 당부하셨어요.
Rồi bà dặn rằng công việc tuy quan trọng nhưng nhất định phải giữ gìn thời gian dành cho gia đình.
그날 이후 저는 주말마다 할머니께 안부 전화를 드리고 있어요.
Kể từ hôm đó, cuối tuần nào tôi cũng gọi điện hỏi thăm bà.
Theo lời bà, trước khi cưới ông được nghỉ mấy ngày một tháng?
- Nghỉ năm ngày.
- Nghỉ hai ngày. ✓
- Không được nghỉ ngày nào.
- Cuối tuần nào cũng nghỉ.
Vì sao người viết thấy xấu hổ về lời than phiền của mình?
- Vì bà đã mắng người viết một trận.
- Vì công ty đã bỏ làm việc cuối tuần.
- Vì biết được người ngày xưa còn vất vả hơn. ✓
- Vì bà bảo đừng đi nghỉ phép.
Điều bà muốn nói nhất là gì?
- Công việc tuy quan trọng nhưng phải giữ gìn thời gian dành cho gia đình. ✓
- Phải làm việc chăm chỉ không nghỉ như ngày xưa.
- Từ “nghỉ phép” là từ mới xuất hiện gần đây.
- Công việc ở nhà máy dễ hơn nhiều so với công việc ở công ty.
🍊 Người đồng nghiệp cũ trở thành nông dân
회사에서 저를 많이 도와주던 재현 선배는 삼 년 전에 제주도로 내려갔어요.
Anh Jaehyun, đàn anh từng giúp đỡ tôi rất nhiều ở công ty, đã chuyển xuống đảo Jeju từ ba năm trước.
선배는 서울에서 매일 늦게까지 일하다가 건강이 나빠져서 귤 농사를 시작했어요.
Ở Seoul, anh ngày nào cũng làm việc đến khuya nên sức khỏe sa sút, vì thế anh bắt đầu trồng quýt.
처음에는 모두 선배가 곧 다시 돌아올 거라고 생각했어요.
Lúc đầu ai cũng nghĩ anh sẽ sớm quay lại.
그런데 얼마 전 제주도에 다녀온 동료에게서 선배 얼굴이 몰라보게 밝아졌더란 이야기를 들었어요.
Thế nhưng mới đây, tôi nghe một đồng nghiệp vừa đi Jeju về kể rằng gương mặt anh tươi tắn đến mức suýt không nhận ra.
요즘은 해가 뜨면 밭에 나가고 해가 지면 일을 마치는 생활을 한대요.
Nghe nói dạo này anh sống cuộc sống mặt trời mọc thì ra vườn, mặt trời lặn thì nghỉ tay.
수입은 날씨에 따라 들쭉날쭉하지만 가족과 저녁을 먹는 날이 훨씬 많아졌대요.
Nghe nói thu nhập thất thường tùy theo thời tiết, nhưng số ngày được ăn tối cùng gia đình đã nhiều hơn hẳn.
그 이야기를 들으니 저도 제 생활을 돌아보게 되었어요.
Nghe chuyện đó, tôi cũng bắt đầu nhìn lại cuộc sống của mình.
이번 겨울에는 휴가를 내서 선배의 귤밭에 직접 가 보려고 해요.
Mùa đông năm nay, tôi định xin nghỉ phép để tự mình đến thăm vườn quýt của anh.
Vì sao anh Jaehyun bắt đầu trồng quýt?
- Vì công ty điều anh xuống Jeju.
- Vì làm việc đến khuya nên sức khỏe sa sút. ✓
- Vì gia đình anh đang làm nông ở Jeju.
- Vì trồng quýt có thể kiếm được nhiều tiền.
Người viết biết tin về anh Jaehyun bằng cách nào?
- Được chính anh ấy gọi điện cho.
- Đã đến vườn quýt của anh vào kỳ nghỉ.
- Nghe từ một đồng nghiệp đã đi Jeju về. ✓
- Biết được nhờ xem ảnh anh gửi.
Điều nào sau đây đúng với nội dung bài đọc?
- Anh ấy sắp quay lại Seoul.
- Thu nhập của anh năm nào cũng như nhau.
- Người viết đã đi Jeju vào mùa đông năm ngoái.
- Dạo này anh thường ăn tối cùng gia đình. ✓
🖨️ Thứ Sáu về sớm ở xưởng in
제가 일하는 인쇄소는 직원이 열 명 남짓한 작은 회사예요.
Xưởng in nơi tôi làm việc là một công ty nhỏ với hơn mười nhân viên.
주문이 몰리는 달에는 금요일에도 밤늦게까지 기계를 돌려야 했어요.
Vào những tháng đơn hàng dồn dập, ngay cả thứ Sáu chúng tôi cũng phải chạy máy đến tận khuya.
그러던 어느 월요일 아침, 공장장님이 직원들을 모아 놓고 사장님의 뜻을 전하셨어요.
Rồi một sáng thứ Hai nọ, quản đốc tập hợp nhân viên lại và truyền đạt ý của giám đốc.
공장장님은 “사장님이 이달부터 금요일에는 네 시에 다 같이 퇴근하자오.”라고 말씀하셨어요.
Quản đốc nói: “Giám đốc bảo từ tháng này, thứ Sáu cả xưởng sẽ cùng tan làm lúc bốn giờ.”
대신 월요일부터 목요일까지 일을 조금 더 꼼꼼하게 계획하기로 했어요.
Đổi lại, chúng tôi quyết định lên kế hoạch công việc từ thứ Hai đến thứ Năm kỹ lưỡng hơn một chút.
처음 몇 주는 주문을 맞추지 못할까 봐 다들 조마조마했어요.
Mấy tuần đầu, ai cũng thấp thỏm lo không kịp đơn hàng.
하지만 미리 일정을 짜 두니 금요일 오후에도 일이 밀리지 않았어요.
Nhưng nhờ đã lên lịch trước nên ngay cả chiều thứ Sáu công việc cũng không bị dồn lại.
요즘 저는 금요일 저녁마다 동네 수영장에 다니며 한 주를 마무리해요.
Dạo này, tối thứ Sáu nào tôi cũng đi bơi ở hồ bơi trong khu phố để khép lại một tuần.
Đề nghị của giám đốc mà quản đốc truyền đạt là gì?
- Đề nghị thứ Sáu tan làm lúc bốn giờ. ✓
- Đề nghị thứ Sáu làm việc đến khuya.
- Đề nghị họp vào mỗi sáng thứ Hai.
- Đề nghị không nghỉ vào những tháng nhiều đơn hàng.
Vì sao ngay cả chiều thứ Sáu công việc cũng không bị dồn lại?
- Vì không có tháng nào đơn hàng dồn dập.
- Vì đã tuyển thêm mười nhân viên mới.
- Vì đã lên lịch kỹ lưỡng từ trước. ✓
- Vì thứ Sáu cho máy chạy nhanh hơn.
Điều nào sau đây đúng với nội dung bài đọc?
- Xưởng in là công ty có hơn một trăm nhân viên.
- Người viết đi bơi vào tối thứ Sáu. ✓
- Giám đốc đã trực tiếp nói với nhân viên.
- Ngay từ đầu nhân viên đã hoàn toàn không lo lắng.
🏢 Mấy ngày lên văn phòng?
민재 씨는 이 년 동안 집에서만 일했는데 요즘 근무 방식이 바뀌게 되었어요.
Minjae đã làm việc ở nhà suốt hai năm, nhưng gần đây cách làm việc của anh sắp thay đổi.
회사가 다음 달부터 일주일에 며칠은 사무실에서 함께 일하자고 제안했거든요.
Bởi vì công ty đề nghị từ tháng sau, mỗi tuần sẽ có vài ngày mọi người cùng làm việc ở văn phòng.
저녁을 먹다가 어머니가 “그래서 회사에서 일주일에 며칠 나오자디?”라고 물으셨어요.
Đang ăn tối, mẹ anh hỏi: “Thế công ty bảo một tuần lên mấy ngày?”
민재 씨는 화요일과 목요일, 이틀만 나가면 된다고 대답했어요.
Minjae trả lời rằng chỉ cần lên hai ngày là thứ Ba và thứ Năm.
어머니는 출퇴근 시간이 길어서 힘들지 않겠냐고 걱정하셨어요.
Mẹ lo rằng thời gian đi lại dài như vậy liệu có mệt không.
하지만 민재 씨는 오랜만에 동료들과 얼굴을 보고 일하는 것도 나쁘지 않을 것 같았어요.
Nhưng Minjae nghĩ lâu lắm rồi mới được gặp mặt làm việc cùng đồng nghiệp thì cũng không tệ.
그래서 집에서 일하는 날에는 혼자 하는 일에 집중하고 회사에 가는 날에는 회의를 몰아서 하기로 했어요.
Vì thế anh quyết định những ngày làm ở nhà sẽ tập trung vào việc làm một mình, còn những ngày lên công ty sẽ dồn các cuộc họp lại.
민재 씨는 두 방식의 장점을 모두 살려 보겠다고 다짐했어요.
Minjae tự hứa sẽ tận dụng ưu điểm của cả hai cách làm việc.
Minjae lên văn phòng mấy ngày một tuần?
- Lên ba ngày.
- Ngày nào cũng lên.
- Không lên ngày nào.
- Lên hai ngày. ✓
Mẹ đã lo lắng điều gì?
- Nghĩ rằng đi lại xa sẽ mệt. ✓
- Nghĩ rằng quan hệ với đồng nghiệp sẽ xấu đi.
- Nghĩ rằng ở nhà sẽ không tập trung làm việc được.
- Nghĩ rằng sẽ có quá nhiều cuộc họp.
Điều nào sau đây đúng với nội dung bài đọc?
- Minjae đã lên văn phòng mỗi ngày suốt hai năm.
- Minjae phản đối mạnh mẽ việc lên văn phòng.
- Mẹ là người báo cho anh biết đề nghị của công ty trước.
- Minjae quyết định dồn các cuộc họp vào những ngày lên công ty. ✓
🥐 Lời đề nghị của chú ở tiệm bánh
대학을 졸업하고 일 년 넘게 취업 준비를 하면서 저는 많이 지쳐 있었어요.
Sau khi tốt nghiệp đại học và chuẩn bị xin việc hơn một năm, tôi đã rất kiệt sức.
서류에서 떨어질 때마다 제가 쓸모없는 사람처럼 느껴졌어요.
Mỗi lần trượt vòng hồ sơ, tôi lại cảm thấy mình như một người vô dụng.
그러던 어느 날 동네에서 삼십 년째 빵집을 하는 삼촌이 저를 가게로 부르셨어요.
Rồi một ngày nọ, chú tôi, người đã mở tiệm bánh trong khu phố được ba mươi năm, gọi tôi đến tiệm.
삼촌은 갓 구운 빵을 건네며 “힘들면 당분간 여기서 빵 만드는 일 좀 배워 보련?”라고 물으셨어요.
Chú đưa cho tôi chiếc bánh mì vừa nướng xong và hỏi: “Nếu mệt mỏi quá thì tạm thời ở đây học làm bánh nhé?”
저는 망설였지만 결국 새벽 네 시에 일어나 반죽하는 법을 배우기 시작했어요.
Tôi đã do dự, nhưng cuối cùng cũng bắt đầu dậy lúc bốn giờ sáng để học cách nhào bột.
몸은 고되었지만 손님들이 제가 만든 빵을 맛있게 먹는 모습을 보니 뿌듯했어요.
Cơ thể thì mệt nhọc, nhưng nhìn khách ăn ngon lành chiếc bánh tôi làm, tôi thấy rất tự hào.
반년이 지난 지금, 저는 제빵 기능사 자격증을 준비하고 있어요.
Giờ đây, sau nửa năm, tôi đang chuẩn bị thi chứng chỉ kỹ thuật viên làm bánh mì.
회사에 들어가는 것만이 유일한 길은 아니라는 걸 삼촌 덕분에 알게 되었어요.
Nhờ có chú, tôi đã hiểu ra rằng vào công ty không phải là con đường duy nhất.
Chú đã hỏi người viết điều gì?
- Hỏi có muốn thay chú quản lý tiệm bánh không.
- Hỏi có muốn học làm bánh không. ✓
- Hỏi có muốn cùng viết hồ sơ xin việc không.
- Hỏi có muốn đi giao bánh lúc sáng sớm không.
Vì sao người viết cảm thấy tự hào?
- Vì dậy sớm lúc rạng sáng rất dễ.
- Vì chú trả lương cao.
- Vì khách đã ăn ngon lành chiếc bánh mình làm. ✓
- Vì đã đậu vòng xét hồ sơ của công ty.
Điều người viết muốn nói nhất là gì?
- Vào công ty không phải là con đường duy nhất. ✓
- Công việc ở tiệm bánh dễ hơn nhiều so với công việc ở công ty.
- Việc chuẩn bị xin việc phải kết thúc trong vòng một năm.
- Tốt nhất không nên làm việc ở cửa hàng của gia đình.
🚕 Lời khuyên của bác tài taxi lúc nửa đêm
지난 목요일에도 저는 야근을 하고 밤 열두 시가 넘어서야 택시를 탔어요.
Thứ Năm tuần trước tôi lại làm thêm giờ, quá mười hai giờ đêm mới bắt được taxi.
뒷자리에서 한숨을 쉬자 나이가 지긋한 기사님이 요즘 많이 바쁘냐고 물으셨어요.
Khi tôi thở dài ở ghế sau, bác tài lớn tuổi hỏi dạo này tôi có bận lắm không.
기사님은 자신도 젊을 때 쉬지 않고 일하다가 크게 아팠던 적이 있다고 하셨어요.
Bác tài kể rằng hồi trẻ bác cũng từng làm việc không nghỉ rồi bị ốm nặng.
그러면서 “예전에 의사 선생이 그러는데 잠이 제일 좋은 보약이랍디다.”라고 하셨어요.
Rồi bác nói: “Hồi trước bác sĩ có bảo là giấc ngủ là liều thuốc bổ tốt nhất đấy.”
집에 도착할 때까지 그 말이 계속 머릿속에 남았어요.
Câu nói đó cứ đọng lại trong đầu tôi cho đến khi về tới nhà.
다음 날 저는 용기를 내어 팀장님께 일정을 다시 조정해 달라고 말씀드렸어요.
Hôm sau, tôi lấy hết can đảm xin trưởng nhóm điều chỉnh lại lịch làm việc.
다행히 팀장님도 제 상황을 이해하고 급하지 않은 일은 다음 주로 미뤄 주셨어요.
May mắn là trưởng nhóm cũng hiểu hoàn cảnh của tôi và dời những việc không gấp sang tuần sau.
요즘 저는 아무리 바빠도 하루에 일곱 시간은 자려고 노력해요.
Giờ đây, dù bận đến đâu tôi cũng cố gắng ngủ đủ bảy tiếng mỗi ngày.
Bác tài nói điều gì là liều thuốc bổ tốt nhất?
- Nói công việc là liều thuốc bổ tốt nhất.
- Nói giấc ngủ là liều thuốc bổ tốt nhất. ✓
- Nói tập thể dục là liều thuốc bổ tốt nhất.
- Nói kỳ nghỉ là liều thuốc bổ tốt nhất.
Điều gì khiến người viết nhờ trưởng nhóm điều chỉnh lịch làm việc?
- Trưởng nhóm đề nghị đổi lịch trước.
- Được bác sĩ ở bệnh viện chẩn đoán.
- Thay đổi suy nghĩ sau khi nghe lời bác tài taxi. ✓
- Đã trò chuyện với đồng nghiệp trên taxi.
Điều nào sau đây đúng với nội dung bài đọc?
- Bác tài hồi trẻ chưa từng bị ốm lần nào.
- Dạo này người viết chỉ ngủ năm tiếng.
- Sau khi làm thêm giờ, người viết đi xe buýt về nhà.
- Trưởng nhóm đã dời những việc không gấp. ✓
🌿 Hồi phục sau kiệt sức
광고 회사에 다니는 은비 씨는 몇 달째 잠을 못 자고 작은 일에도 눈물이 났어요.
Eunbi làm việc ở một công ty quảng cáo, đã mấy tháng nay cô không ngủ được và chuyện nhỏ cũng khiến cô rơi nước mắt.
결국 병원을 찾아간 그녀는 번아웃 증후군이라는 진단을 받았어요.
Cuối cùng cô đến bệnh viện và được chẩn đoán mắc hội chứng kiệt sức.
집에 돌아오자 걱정하던 집주인 할머니가 “그래, 의사 선생님은 병이 뭐랍디까?”라고 물으셨어요.
Vừa về đến nhà, bà chủ nhà đang lo lắng liền hỏi: “Thế bác sĩ bảo là bệnh gì?”
은비 씨가 너무 오래 쉬지 않고 일해서 생긴 병이라고 하자 할머니는 고개를 끄덕이셨어요.
Khi Eunbi nói đó là bệnh do làm việc quá lâu không nghỉ ngơi, bà gật đầu.
은비 씨는 회사와 상의해서 석 달 동안 휴직하기로 했어요.
Sau khi bàn bạc với công ty, Eunbi quyết định nghỉ phép ba tháng.
휴직 기간에는 아침마다 공원을 걷고 할머니의 작은 텃밭 일을 도왔어요.
Trong thời gian nghỉ phép, sáng nào cô cũng đi bộ trong công viên và giúp bà chăm mảnh vườn rau nhỏ.
흙을 만지며 천천히 시간을 보내자 조금씩 잠도 다시 잘 자게 되었어요.
Khi chạm tay vào đất và chậm rãi trải qua từng ngày, cô dần dần ngủ ngon trở lại.
복직을 앞둔 지금, 그녀는 다시는 일에 모든 것을 걸지 않겠다고 다짐하고 있어요.
Giờ đây, khi sắp đi làm lại, cô tự hứa sẽ không bao giờ đặt cược tất cả vào công việc nữa.
Nguyên nhân khiến Eunbi bị bệnh là gì?
- Cô đã làm việc quá lâu mà không nghỉ ngơi. ✓
- Cô đã làm vườn quá nhiều.
- Cô đã đi bộ trong công viên quá lâu.
- Cô không hòa thuận với chủ nhà.
Lý do đúng khiến Eunbi ngủ ngon trở lại là gì?
- Vì công ty đã giảm giờ làm thêm cho cô.
- Vì cô được bệnh viện cho thuốc ngủ.
- Vì cô nghỉ phép và chậm rãi trải qua thời gian. ✓
- Vì cô đã nghỉ hẳn ở công ty quảng cáo.
Điều nào đúng với nội dung bài đọc?
- Eunbi đi làm lại ngay sau khi được chẩn đoán.
- Eunbi quyết định nghỉ phép ba tháng. ✓
- Eunbi đã phụ giúp ở quán ăn của bà.
- Eunbi nghỉ việc và chuyển nhà.
👁️ Một phút cho đôi mắt
마흔다섯 살인 디자이너 수진 씨는 요즘 오후만 되면 눈이 뻑뻑하고 글자가 흐려 보였어요.
Sujin, một nhà thiết kế bốn mươi lăm tuổi, dạo này cứ đến chiều là mắt khô rát và chữ trông mờ đi.
하루에 열 시간 넘게 모니터를 들여다보는 생활이 벌써 이십 년째였어요.
Cuộc sống nhìn chằm chằm vào màn hình hơn mười tiếng mỗi ngày đã kéo dài hai mươi năm.
안과에 다녀온 수진 씨는 남편에게 “의사가 한 시간마다 잠깐씩 눈을 감으랍디다.” 하고 전했어요.
Đi khám mắt về, Sujin kể với chồng: “Bác sĩ bảo cứ mỗi tiếng thì nhắm mắt một lát.”
의사는 화면을 오래 보면 눈을 깜빡이는 횟수가 줄어서 눈이 쉽게 마른다고 설명했대요.
Nghe nói bác sĩ giải thích rằng nhìn màn hình lâu sẽ khiến số lần chớp mắt giảm đi nên mắt dễ bị khô.
그래서 수진 씨는 한 시간마다 알람을 맞추고 알람이 울리면 일 분 동안 눈을 감고 쉬었어요.
Vì vậy Sujin đặt báo thức mỗi tiếng, và khi chuông reo thì cô nhắm mắt nghỉ một phút.
점심시간에는 휴대폰 대신 회사 옥상에 올라가 먼 산을 바라보는 습관도 생겼어요.
Vào giờ ăn trưa, cô cũng có thói quen lên sân thượng công ty ngắm núi xa thay vì xem điện thoại.
이 주쯤 지나자 오후에도 눈이 덜 피곤하고 글자가 또렷하게 보이기 시작했어요.
Khoảng hai tuần sau, ngay cả buổi chiều mắt cũng đỡ mỏi hơn và chữ bắt đầu trông rõ nét.
수진 씨는 일을 오래 하려면 눈에도 쉬는 시간을 줘야 한다는 걸 깨달았어요.
Sujin nhận ra rằng muốn làm việc lâu dài thì cũng phải cho đôi mắt thời gian nghỉ ngơi.
Khi chuông báo thức reo, Sujin làm gì?
- Lên sân thượng ngắm núi.
- Nhỏ nước mắt nhân tạo vào mắt.
- Kiểm tra email bằng điện thoại.
- Nhắm mắt nghỉ một phút. ✓
Theo bác sĩ, vì sao mắt Sujin dễ bị khô?
- Vì số lần chớp mắt giảm đi. ✓
- Vì cô ngủ quá nhiều.
- Vì văn phòng quá tối.
- Vì kính không hợp với mắt cô.
Điều nào đúng với nội dung bài đọc?
- Sujin đã giảm một nửa thời gian làm việc.
- Sujin quyết định phẫu thuật mắt.
- Mắt của Sujin ngày càng tệ hơn.
- Sujin đã tạo thói quen cho mắt nghỉ ngơi. ✓
⚖️ Xin ngày nghỉ bù
제가 다니는 행사 기획 회사는 주말에 열리는 행사가 많아요.
Công ty tổ chức sự kiện nơi tôi làm việc có rất nhiều sự kiện diễn ra vào cuối tuần.
지난 두 달 동안 우리 팀은 한 번도 빠짐없이 주말마다 출근했어요.
Suốt hai tháng qua, nhóm chúng tôi đi làm tất cả các cuối tuần, không bỏ sót lần nào.
그런데 평일에 따로 쉬는 날은 주어지지 않아서 모두 지쳐 가고 있었어요.
Nhưng chúng tôi không được cho ngày nghỉ riêng vào ngày thường, nên ai cũng dần kiệt sức.
회의 시간에 가장 오래 일한 박 과장님이 “회사는 우리더러 언제까지 이렇게 참으랍디까?”라고 말씀하셨어요.
Trong cuộc họp, trưởng phòng Park, người làm việc lâu nhất, nói: “Công ty bảo chúng ta phải chịu đựng thế này đến bao giờ?”
팀장님은 그 말에 고개를 끄덕이고 팀원들의 주말 근무 기록을 정리하셨어요.
Trưởng nhóm gật đầu trước lời đó và tổng hợp lại hồ sơ làm việc cuối tuần của các thành viên.
그리고 그 기록을 들고 인사팀을 찾아가 대체 휴무를 요청하셨어요.
Rồi anh ấy mang hồ sơ đó đến phòng nhân sự và đề nghị cho nghỉ bù.
그 결과 다음 달부터 주말에 일한 만큼 평일에 쉴 수 있게 되었어요.
Kết quả là từ tháng sau, làm cuối tuần bao nhiêu ngày thì chúng tôi được nghỉ bấy nhiêu ngày vào ngày thường.
불만을 참기만 하기보다 정확한 근거를 가지고 말하는 것이 중요하다는 걸 배웠어요.
Tôi đã học được rằng thay vì chỉ cố nén bất mãn, điều quan trọng là phải lên tiếng với căn cứ rõ ràng.
Vì sao các thành viên trong nhóm dần kiệt sức?
- Vì sự kiện ngày thường đột nhiên nhiều lên.
- Vì làm việc cuối tuần mà vẫn không được nghỉ ngày thường. ✓
- Vì trưởng nhóm họp quá thường xuyên.
- Vì phòng nhân sự cấm làm việc cuối tuần.
Trưởng nhóm đã làm gì để giải quyết vấn đề?
- Bảo các thành viên cố chịu thêm chút nữa.
- Giao hết các sự kiện cuối tuần cho nhóm khác.
- Tổng hợp hồ sơ làm việc và đề nghị cho nghỉ bù. ✓
- Nghỉ việc cùng với trưởng phòng Park.
Điều người viết muốn nói nhất là gì?
- Bất mãn thì phải nói ra với căn cứ rõ ràng. ✓
- Phải từ chối làm việc cuối tuần trong mọi trường hợp.
- Không nên phàn nàn về quyết định của công ty.
- Công việc tổ chức sự kiện chỉ nên làm vào ngày thường.
🎶 Lời mời hát hợp xướng
쉰다섯 살 상철 씨는 삼십 년 가까이 회사와 집만 오가며 살았어요.
Ông Sangcheol năm mươi lăm tuổi đã sống gần ba mươi năm chỉ đi đi về về giữa công ty và nhà.
주말에도 특별히 하는 일 없이 텔레비전 앞에 앉아 있는 날이 많았어요.
Ngay cả cuối tuần, ông cũng thường ngồi trước tivi mà chẳng có việc gì đặc biệt để làm.
어느 날 퇴근한 상철 씨가 아내에게 “옆 부서 김 부장이 토요일마다 같이 합창 연습을 하잡디다.”라고 말했어요.
Một hôm, đi làm về, ông Sangcheol nói với vợ: “Trưởng phòng Kim ở phòng bên rủ tôi thứ Bảy nào cũng cùng tập hát hợp xướng.”
아내는 노래를 싫어하던 사람이 웬일이냐며 꼭 가 보라고 권했어요.
Vợ ông ngạc nhiên không biết người vốn ghét hát sao lại thế, và khuyên ông nhất định phải đi thử.
처음 연습에 간 날 상철 씨는 목소리가 떨려서 입도 제대로 벌리지 못했어요.
Ngày đầu đi tập, giọng ông Sangcheol run đến mức không mở miệng nổi cho đàng hoàng.
하지만 여러 사람과 소리를 맞추다 보니 한 주의 피로가 풀리는 것 같았어요.
Nhưng khi hòa giọng cùng nhiều người, ông thấy mệt mỏi cả tuần như tan biến.
몇 달 뒤 그는 동네 문화 센터 공연에서 가족들 앞에 서게 되었어요.
Vài tháng sau, ông được đứng trước gia đình trong buổi biểu diễn ở trung tâm văn hóa của khu phố.
상철 씨는 은퇴하기 전에 회사 밖에서 또 다른 자신을 찾게 되어 기쁘다고 말해요.
Ông Sangcheol nói rằng ông vui vì trước khi nghỉ hưu đã tìm thấy một con người khác của mình bên ngoài công ty.
Trưởng phòng Kim đã đề nghị ông Sangcheol điều gì?
- Rủ cuối tuần nào cũng cùng đi leo núi.
- Rủ thứ Bảy nào cũng tập hát hợp xướng. ✓
- Rủ dạy hát ở trung tâm văn hóa.
- Rủ sau giờ làm cùng xem tivi.
Vì sao người vợ ngạc nhiên?
- Vì chồng bà không hòa thuận với trưởng phòng Kim.
- Vì chồng bà nói cuối tuần sẽ đi làm.
- Vì người chồng vốn ghét hát lại nói chuyện hợp xướng. ✓
- Vì chồng bà mời gia đình đến xem biểu diễn.
Điều nào đúng với nội dung bài đọc?
- Ông Sangcheol hát rất hay trong buổi tập đầu tiên.
- Ông Sangcheol đã nghỉ hưu rồi.
- Ông Sangcheol vẫn tập thể dục mỗi cuối tuần.
- Ông Sangcheol đã biểu diễn trước gia đình. ✓