🇰🇷 Hanguru — Học tiếng Hàn

hanguru.app

← Quay lại ứng dụng ← Xem tất cả bài học

Đọc hiểu tiếng Hàn — Chợ

18 bài đọc trình độ TOPIK II thuộc chủ đề “Chợ”, mỗi bài có bản dịch từng câu và câu hỏi đọc hiểu.

🍚 Mẹ đã bảo vo gạo trước rồi mà

지난 일요일 저녁에 저는 엄마를 도와 된장찌개와 밥을 준비했어요.
Tối Chủ nhật tuần trước, mình giúp mẹ nấu canh doenjang và cơm.
엄마는 찌개를 끓이기 전에 쌀부터 씻어 두라고 하셨어요.
Mẹ dặn mình vo gạo trước rồi hẵng nấu canh.
하지만 저는 두부와 호박을 써는 게 더 재미있어서 그 말을 잊어버렸어요.
Nhưng mình thấy thái đậu phụ và bí ngòi vui hơn nên quên mất lời mẹ.
찌개가 거의 다 끓었을 때 엄마가 밥솥을 열어 보고 한숨을 쉬셨어요.
Khi canh gần chín, mẹ mở nồi cơm điện ra xem rồi thở dài.
엄마는 “그러니까 쌀부터 씻으라니깐.” 하고 웃으면서 말씀하셨어요.
Mẹ vừa cười vừa nói: “Thấy chưa, mẹ đã bảo vo gạo trước rồi mà.”
결국 우리 가족은 밥이 될 때까지 삼십 분을 더 기다려야 했어요.
Cuối cùng, cả nhà mình phải đợi thêm ba mươi phút cho đến khi cơm chín.
그날 이후로 저는 요리할 때 시간이 오래 걸리는 일부터 먼저 해요.
Từ hôm đó, khi nấu ăn mình luôn làm trước những việc tốn nhiều thời gian.
Lúc đầu mẹ bảo làm gì?
  • Bảo thái đậu phụ trước.
  • Bảo vo gạo trước. ✓
  • Bảo nấu canh trước.
  • Bảo đi mua bí ngòi.
Vì sao cả nhà ăn tối muộn?
  • Vì canh nấu bị mặn quá.
  • Vì không có đậu phụ và bí ngòi.
  • Vì bắt đầu nấu cơm muộn. ✓
  • Vì nồi cơm điện bị hỏng.
Qua bài đọc có thể biết được điều gì?
  • Bây giờ người kể chuyện làm trước những việc tốn nhiều thời gian. ✓
  • Mẹ đã rất giận người kể chuyện.
  • Người kể chuyện không thích nấu ăn.
  • Cả nhà chỉ ăn canh mà không có cơm.

🍉 Có nên mua dưa hấu không

무더운 토요일 오후에 저는 룸메이트 민호와 시장에 장을 보러 갔어요.
Một buổi chiều thứ Bảy oi bức, mình cùng bạn cùng phòng Minho đi chợ.
과일 가게 앞에 아주 크고 잘 익은 수박이 놓여 있었어요.
Trước cửa hàng hoa quả có một quả dưa hấu rất to và chín mọng.
저는 사고 싶었지만 둘이 먹기에는 너무 크고 무거워 보였어요.
Mình muốn mua nhưng nó trông quá to và nặng so với hai người ăn.
민호는 수박을 두드려 보기만 하고 아무 말도 하지 않았어요.
Minho chỉ gõ gõ vào quả dưa mà không nói gì.
답답해진 저는 “사라든지 사지 말라든지 얘기 좀 해 줘.”라고 했어요.
Sốt ruột, mình nói: “Mua hay không mua thì cậu nói gì đi chứ.”
그러자 민호는 반으로 잘라서 파는 수박을 사자고 했어요.
Thế là Minho rủ mua loại dưa hấu được cắt đôi bán.
덕분에 들고 오기도 편했고 남기지 않고 다 먹을 수 있었어요.
Nhờ vậy mang về cũng tiện mà ăn hết sạch không thừa.
Vì sao người kể chuyện không mua dưa hấu ngay?
  • Vì dưa hấu chưa chín kỹ.
  • Vì trông quá to so với hai người ăn. ✓
  • Vì cửa hàng không còn quả dưa hấu nào.
  • Vì Minho không thích dưa hấu.
Cuối cùng Minho đề nghị làm gì?
  • Đề nghị hai người cùng khiêng quả dưa to về.
  • Đề nghị mua dưa lê thay cho dưa hấu.
  • Đề nghị mua dưa hấu cắt đôi. ✓
  • Đề nghị tuần sau quay lại.
Nội dung nào đúng với bài đọc?
  • Minho đã nói rõ ý kiến ngay từ đầu.
  • Người kể chuyện đi chợ một mình.
  • Hai người đã không mua dưa hấu.
  • Hai người đã ăn hết dưa hấu không thừa. ✓

🥩 Cho cháu như mọi khi ạ

토요일 아침에 엄마가 저에게 시장 정육점에 가서 고기를 사 오라고 하셨어요.
Sáng thứ Bảy, mẹ bảo mình ra hàng thịt ở chợ mua thịt.
뭘 사야 하는지 여쭤보니 엄마는 사장님께 평소처럼 달라고 하면 된다고만 하셨어요.
Mình hỏi phải mua gì thì mẹ chỉ bảo cứ nói với ông chủ là “cho như mọi khi” là được.
정육점에 들어가자 사장님께서 “엄마 심부름 왔구나. 엄마가 뭘 사 오라던?” 하고 물으셨어요.
Vừa bước vào hàng thịt, ông chủ hỏi: “Cháu đi mua hộ mẹ à. Mẹ dặn mua gì thế?”
제가 평소처럼 달라고 하셨다고 말씀드리자 사장님께서 크게 웃으셨어요.
Khi mình thưa là mẹ bảo cho như mọi khi, ông chủ cười lớn.
사장님은 잠깐 생각하시더니 국거리용 소고기와 삼겹살을 한 근씩 싸 주셨어요.
Ông chủ nghĩ một lát rồi gói cho mình mỗi thứ một geun thịt bò nấu canh và thịt ba chỉ.
집에 와서 봉지를 열어 보신 엄마는 늘 사던 그대로라며 고개를 끄덕이셨어요.
Về đến nhà, mẹ mở túi ra xem rồi gật đầu bảo đúng y như mọi khi vẫn mua.
그날 저는 단골 가게가 있다는 것이 얼마나 편한지 알게 됐어요.
Hôm đó mình mới biết có một cửa hàng quen thì tiện lợi biết bao.
Mẹ đã bảo người kể chuyện làm thế nào?
  • Bảo nói với ông chủ là cho như mọi khi. ✓
  • Bảo ghi những thứ cần mua ra giấy mang theo.
  • Bảo mua hai geun thịt ba chỉ.
  • Bảo gọi điện cho ông chủ trước.
Vì sao ông chủ có thể gói đúng loại thịt cần mua?
  • Vì mẹ đã gọi điện đặt trước.
  • Vì người kể chuyện đã nói chính xác thứ cần mua.
  • Vì ông biết mẹ thường mua loại thịt nào. ✓
  • Vì cửa hàng chỉ có hai loại thịt.
Nội dung nào đúng với bài đọc?
  • Người kể chuyện đi hàng thịt cùng mẹ.
  • Mẹ hài lòng với phần thịt ông chủ gói. ✓
  • Ông chủ đã nổi giận với người kể chuyện.
  • Người kể chuyện quay về mà không mua được thịt.

🥬 Giá cải thảo mùa muối kim chi

우리 가족은 해마다 십일월이 되면 할머니 댁에 모여 김장을 해요.
Năm nào cứ đến tháng Mười Một, gia đình mình lại tụ họp ở nhà bà để muối kim chi.
올해도 저는 엄마와 함께 배추를 사러 새벽 시장에 갔어요.
Năm nay mình cũng cùng mẹ đi chợ sáng sớm mua cải thảo.
그런데 여름에 비가 많이 와서 배춧값이 작년보다 꽤 올라 있었어요.
Nhưng vì mùa hè mưa nhiều nên giá cải thảo đã tăng khá nhiều so với năm ngoái.
엄마는 “아무리 김장철이라지만 배추가 너무 비싸네요.” 하고 한숨을 쉬셨어요.
Mẹ thở dài: “Dù là mùa muối kim chi nhưng cải thảo đắt quá.”
그래서 우리는 배추를 작년보다 조금 적게 사고 무를 더 샀어요.
Vì vậy, nhà mình mua cải thảo ít hơn năm ngoái một chút và mua thêm củ cải.
그 무로 할머니께서 깍두기와 동치미를 넉넉하게 담그셨어요.
Bà dùng số củ cải đó muối thật nhiều kkakdugi và dongchimi.
김치 종류는 달라졌지만 가족이 함께 만들어서 올해도 즐거웠어요.
Loại kim chi tuy có khác nhưng vì cả nhà cùng làm nên năm nay vẫn rất vui.
Vì sao năm nay giá cải thảo tăng?
  • Vì chợ sáng sớm đóng cửa.
  • Vì số người muối kim chi giảm đi.
  • Vì củ cải rẻ đi nhiều.
  • Vì mùa hè mưa nhiều. ✓
Năm nay gia đình đã làm gì khác đi?
  • Mua ít cải thảo và mua thêm củ cải. ✓
  • Không muối kim chi mà mua kim chi.
  • Tụ họp ở nơi khác chứ không phải nhà bà.
  • Mua cải thảo gấp đôi năm ngoái.
Nội dung nào đúng với bài đọc?
  • Người kể chuyện đi chợ sáng sớm một mình.
  • Năm nay cải thảo rẻ hơn năm ngoái.
  • Năm nay gia đình muối kim chi không vui.
  • Bà đã dùng củ cải muối kkakdugi. ✓

👶 Bánh gạo mừng bé tròn một trăm ngày

다음 주가 언니 아기의 백일이라서 저는 떡을 주문하러 시장 떡집에 갔어요.
Tuần sau là ngày bé nhà chị gái mình tròn một trăm ngày nên mình ra tiệm bánh gạo ở chợ để đặt bánh.
떡집 진열대에는 알록달록한 무지개떡과 하얀 백설기가 가득했어요.
Quầy bày bánh đầy những chiếc bánh cầu vồng sặc sỡ và bánh baekseolgi trắng tinh.
저는 사장님께 “백일에는 백설기를 준비하는 게 전통이라지요?” 하고 여쭤봤어요.
Mình hỏi cô chủ: “Nghe nói ngày một trăm ngày thì theo truyền thống phải chuẩn bị bánh baekseolgi phải không ạ?”
사장님은 하얀 백설기에 아기가 깨끗하고 건강하게 자라기를 바라는 뜻이 있다고 하셨어요.
Cô chủ nói bánh baekseolgi trắng mang ý nghĩa mong em bé lớn lên trong sạch và khỏe mạnh.
또 백일 떡을 여러 이웃과 나눠 먹으면 아기가 오래 산다는 말도 있다고 알려 주셨어요.
Cô còn cho biết có câu nói rằng nếu chia bánh một trăm ngày cho nhiều hàng xóm cùng ăn thì em bé sẽ sống lâu.
그래서 저는 백설기를 넉넉하게 주문해서 백일 날 아파트 이웃들과 나눴어요.
Vì vậy mình đặt thật nhiều bánh baekseolgi và chia cho hàng xóm trong chung cư vào ngày một trăm ngày.
이웃들이 아기에게 축하 인사를 건네 주셔서 언니도 무척 기뻐했어요.
Hàng xóm gửi lời chúc mừng em bé nên chị mình cũng vui lắm.
Vì sao người kể chuyện đến tiệm bánh gạo?
  • Để học cách làm bánh gạo.
  • Để đặt bánh một trăm ngày cho bé nhà chị gái. ✓
  • Để mua bánh cầu vồng ăn.
  • Để lấy bánh sinh nhật của chị gái.
Theo lời cô chủ, bánh baekseolgi trắng mang ý nghĩa gì?
  • Mong em bé học giỏi.
  • Mong gia đình trở nên giàu có.
  • Mong em bé lớn lên trong sạch và khỏe mạnh. ✓
  • Mong em bé sớm biết đi.
Nội dung nào đúng với bài đọc?
  • Người kể chuyện đã chia bánh baekseolgi cho hàng xóm. ✓
  • Người kể chuyện đã đặt bánh cầu vồng.
  • Em bé của người kể chuyện tròn một trăm ngày.
  • Cô chủ bảo đừng chia bánh cho người khác.

🥢 Ngày giảm giá ở tiệm món ăn kèm

저는 요리할 시간이 부족해서 동네 반찬 가게를 자주 이용해요.
Vì không có nhiều thời gian nấu ăn nên mình hay mua ở tiệm món ăn kèm trong khu phố.
어느 수요일 저녁, 퇴근한 룸메이트 서연이가 “오늘 반찬 가게 할인하는 날이라지?” 하고 물었어요.
Một tối thứ Tư, bạn cùng phòng Seoyeon đi làm về hỏi: “Nghe nói hôm nay là ngày tiệm món ăn kèm giảm giá phải không?”
그제야 사장님이 수요일마다 반찬을 싸게 판다고 한 말이 생각났어요.
Lúc đó mình mới nhớ ra ông chủ từng nói thứ Tư nào cũng bán món ăn kèm giá rẻ.
서둘러 갔지만 인기 있는 멸치볶음과 계란말이는 벌써 다 팔렸어요.
Hai đứa vội vàng đi nhưng món cá cơm rim và trứng cuộn được ưa chuộng đã bán hết rồi.
대신 사장님이 처음 보는 나물 반찬을 권해 주셔서 그것을 샀어요.
Thay vào đó, ông chủ giới thiệu một món rau namul mà bọn mình chưa từng thấy nên bọn mình mua món đó.
먹어 보니 생각보다 훨씬 맛있어서 둘 다 깜짝 놀랐어요.
Ăn thử thì ngon hơn tưởng tượng nhiều, cả hai đều bất ngờ.
다음 수요일에는 일찍 가서 그 나물을 또 사기로 했어요.
Hai đứa quyết định thứ Tư tuần sau sẽ đi sớm để mua lại món rau namul đó.
Tiệm món ăn kèm giảm giá khi nào?
  • Mỗi cuối tuần.
  • Mỗi thứ Tư. ✓
  • Mỗi tháng một lần.
  • Mỗi tối.
Vì sao hai người mua món rau namul?
  • Vì vốn đã thích rau namul.
  • Vì rau namul rẻ nhất.
  • Vì ông chủ đã giới thiệu món đó. ✓
  • Vì Seoyeon muốn ăn thử.
Nội dung nào đúng với bài đọc?
  • Người kể chuyện ngày nào cũng nấu ăn ở nhà.
  • Hai người đã mua trứng cuộn.
  • Món rau namul không ngon lắm.
  • Hai người định lần sau lại mua rau namul. ✓

🥕 Hóa ra không phải tiệm rẻ nhất

친구 하은이가 시장 입구에 있는 채소 가게가 동네에서 제일 싸다고 알려 줬어요.
Bạn mình là Haeun bảo rằng tiệm rau ở lối vào chợ là rẻ nhất trong khu.
그래서 주말에 그 가게에 가서 당근과 감자, 양파를 골랐어요.
Vì vậy cuối tuần mình đến tiệm đó chọn cà rốt, khoai tây và hành tây.
그런데 계산해 보니 평소에 가던 마트보다 오히려 더 비쌌어요.
Nhưng lúc tính tiền thì lại còn đắt hơn cả siêu thị mình hay đi.
저는 하은이에게 전화해서 “제일 싼 가게라면서 왜 이렇게 비싸?” 하고 물었어요.
Mình gọi cho Haeun và hỏi: “Cậu bảo là tiệm rẻ nhất mà sao đắt thế?”
알고 보니 하은이가 말한 곳은 시장 반대쪽 입구에 있는 다른 가게였어요.
Hóa ra chỗ Haeun nói là một tiệm khác ở lối vào phía bên kia chợ.
시장에 입구가 두 개라는 것을 저는 그때 처음 알았어요.
Lúc đó mình mới biết lần đầu là chợ có hai lối vào.
다음 날 그 가게에 가 보니 정말 채소가 훨씬 쌌어요.
Hôm sau mình đến tiệm đó thì rau đúng là rẻ hơn nhiều thật.
Vì sao người kể chuyện gọi điện cho Haeun?
  • Vì giá rau đắt hơn mình nghĩ. ✓
  • Vì muốn nói cảm ơn Haeun.
  • Vì muốn đi chợ cùng Haeun.
  • Vì rau không tươi.
Vì sao tiệm người kể chuyện đến lần đầu không rẻ?
  • Vì cuối tuần nên giá tăng.
  • Vì người kể chuyện mua quá nhiều rau.
  • Vì đó không phải tiệm Haeun đã nói. ✓
  • Vì Haeun cố tình nói dối.
Nội dung nào đúng với bài đọc?
  • Người kể chuyện chỉ mua rau ở siêu thị.
  • Chợ đó có hai lối vào. ✓
  • Haeun chưa từng đi chợ đó.
  • Tiệm thứ hai cũng đắt.

🛍️ Xách đồ giúp người khác

지난 목요일에 저는 퇴근길에 전통 시장에 들러 저녁거리를 샀어요.
Thứ Năm tuần trước, trên đường đi làm về, mình ghé chợ truyền thống mua đồ ăn tối.
생선 가게 앞에 한 할머니가 쌀 포대와 채소 봉지를 옆에 두고 서 계셨어요.
Trước hàng cá có một bà cụ đang đứng, bên cạnh là bao gạo và túi rau.
할머니가 그 무거운 짐을 혼자 드시려기에 제가 얼른 대신 들어 드렸어요.
Thấy bà định một mình xách số đồ nặng ấy, mình vội xách giúp bà.
짐을 들고 할머니 댁까지 함께 걸어가니 십 분쯤 걸렸어요.
Mình xách đồ đi bộ cùng bà về đến nhà, mất khoảng mười phút.
댁에 도착하자 할머니께서 고맙다며 직접 담그신 김치를 한 통 주셨어요.
Về đến nhà, bà cảm ơn rồi cho mình một hộp kim chi do chính bà muối.
그날 저녁 그 김치 덕분에 평범한 밥상이 아주 특별해졌어요.
Tối hôm đó, nhờ hộp kim chi ấy mà bữa cơm bình thường trở nên thật đặc biệt.
Vì sao người kể chuyện xách đồ giúp bà cụ?
  • Vì bà cụ hỏi đường.
  • Vì chủ hàng cá nhờ.
  • Vì bà cụ là hàng xóm của người kể chuyện.
  • Vì bà cụ định một mình xách đồ. ✓
Bà cụ đã cho người kể chuyện cái gì?
  • Kim chi do chính bà muối. ✓
  • Cá mua ở chợ.
  • Một bao gạo.
  • Một bữa tối nóng hổi bà nấu.
Nội dung nào đúng với bài đọc?
  • Người kể chuyện đi chợ vào buổi sáng.
  • Bà cụ đã tự mình xách đồ về.
  • Hôm đó người kể chuyện không ăn tối.
  • Từ chợ có thể đi bộ đến nhà bà cụ. ✓

🥟 Hàng người trước tiệm bánh mandu mới

우리 아파트 앞 빈 가게에서 몇 주 동안 공사 소리가 계속 들렸어요.
Suốt mấy tuần liền, tiếng thi công cứ vang lên từ cửa hàng trống trước chung cư nhà mình.
어느 날 아침 보니 가게 유리창에 커다란 만두 그림이 붙어 있었어요.
Một buổi sáng, mình thấy trên cửa kính cửa hàng có dán một bức tranh bánh mandu rất to.
그날 저녁에는 가게 앞에 화분이 놓이고 사람들이 모여 있었어요.
Tối hôm đó, trước cửa hàng có đặt những chậu hoa và mọi người tụ tập lại.
그 모습을 보고 저는 남편에게 “드디어 내일 문을 열려나 봐요.”라고 말했어요.
Thấy cảnh đó, mình nói với chồng: “Hình như cuối cùng ngày mai họ sẽ khai trương anh ạ.”
예상대로 다음 날 아침부터 가게 앞에 줄이 길게 생겼어요.
Đúng như dự đoán, từ sáng hôm sau trước cửa hàng đã có một hàng người dài.
우리도 삼십 분을 기다려서 김치만두와 고기만두를 한 판씩 샀어요.
Vợ chồng mình cũng đợi ba mươi phút rồi mua mỗi loại một khay mandu kim chi và mandu thịt.
만두피가 얇고 속이 꽉 차 있어서 기다린 보람이 있었어요.
Vỏ bánh mỏng mà nhân lại đầy đặn nên chờ đợi cũng đáng.
Vì sao người kể chuyện nghĩ cửa hàng sắp khai trương?
  • Vì trước cửa hàng có hàng người dài.
  • Vì có mọi người tụ tập trước cửa hàng. ✓
  • Vì lại nghe thấy tiếng thi công.
  • Vì chủ cửa hàng trực tiếp báo cho biết.
Người kể chuyện đã đợi bao lâu để mua bánh mandu?
  • Đợi mấy tuần.
  • Đợi một tiếng.
  • Đợi ba mươi phút. ✓
  • Không phải đợi mà mua được ngay.
Nội dung nào đúng với bài đọc?
  • Bánh mandu của tiệm mới ngon xứng đáng với thời gian chờ đợi. ✓
  • Tiệm bánh mandu mở bên trong chung cư.
  • Người kể chuyện chỉ mua mandu thịt.
  • Ngày khai trương có ít khách.

🚚 Hôm nay xe hoa quả có đến không?

우리 동네에는 목요일마다 과일을 가득 실은 트럭이 찾아와요.
Thứ Năm nào cũng có một chiếc xe tải chở đầy hoa quả đến khu phố mình.
트럭 아저씨는 늘 맛보기용 과일을 잘라 주셔서 동네 사람들에게 인기가 많아요.
Chú lái xe lúc nào cũng cắt hoa quả cho mọi người ăn thử nên rất được người trong khu yêu mến.
그런데 지난 목요일에는 아침부터 비가 많이 내렸어요.
Nhưng thứ Năm tuần trước trời mưa to từ sáng.
창밖을 보며 저는 “이런 날에도 아저씨가 오시려나?” 하고 혼잣말을 했어요.
Nhìn ra ngoài cửa sổ, mình tự nhủ: “Trời thế này không biết chú có đến không nhỉ?”
저녁 무렵 비가 그치자 익숙한 트럭 방송 소리가 들렸어요.
Gần tối, khi mưa tạnh, mình nghe thấy tiếng loa quen thuộc của chiếc xe.
아저씨는 비 때문에 늦었다며 귤을 평소보다 넉넉하게 담아 주셨어요.
Chú bảo vì mưa nên đến muộn rồi cho mình nhiều quýt hơn mọi khi.
저는 그 귤을 이웃과 나눠 먹으며 따뜻한 저녁을 보냈어요.
Mình chia quýt cho hàng xóm cùng ăn và có một buổi tối thật ấm áp.
Xe hoa quả đến khu phố khi nào?
  • Mỗi ngày trời mưa.
  • Mỗi thứ Năm. ✓
  • Mỗi cuối tuần.
  • Mỗi tối.
Vì sao hôm đó xe đến muộn?
  • Vì quýt đã bán hết.
  • Vì xe bị hỏng.
  • Vì trời mưa to. ✓
  • Vì chú bị ốm.
Qua bài đọc có thể biết được điều gì?
  • Hôm đó người kể chuyện không mua được hoa quả.
  • Chú không cho ăn thử hoa quả.
  • Hôm đó mưa liên tục đến tận đêm.
  • Chú lái xe rất được yêu mến trong khu phố. ✓

🫘 Đậu phụ bán hết từ buổi sáng

시장 골목 끝에는 손두부를 파는 작은 가게가 있어요.
Ở cuối con hẻm trong chợ có một tiệm nhỏ bán đậu phụ làm thủ công.
사장님이 매일 새벽에 콩을 갈아서 딱 정해진 양만 만드세요.
Ngày nào ông chủ cũng xay đậu từ sáng sớm tinh mơ và chỉ làm đúng một lượng nhất định.
그래서 이웃들은 “아침 일찍 가면 몰라도 점심 이후에는 그 두부 못 사요.”라고 말해요.
Vì vậy hàng xóm hay nói: “Đi sớm buổi sáng thì may ra, chứ sau buổi trưa là không mua được đậu phụ đó đâu.”
저는 처음에 그 말을 믿지 않고 오후에 갔다가 빈손으로 돌아온 적이 있어요.
Lúc đầu mình không tin, có lần đi vào buổi chiều rồi về tay không.
그래서 지난 토요일에는 알람을 맞추고 아침 일곱 시에 가게에 갔어요.
Vì vậy thứ Bảy tuần trước mình đặt báo thức và đến tiệm lúc bảy giờ sáng.
따뜻한 두부를 사 와서 간장만 찍어 먹었는데도 정말 고소했어요.
Mình mua đậu phụ còn nóng về, chỉ chấm nước tương thôi mà vẫn bùi ngon thật sự.
이제는 주말 아침마다 그 가게에 가는 것이 제 작은 즐거움이 됐어요.
Giờ đây, sáng cuối tuần nào cũng đến tiệm đó đã trở thành niềm vui nho nhỏ của mình.
Vì sao buổi chiều khó mua được đậu phụ đó?
  • Vì chỉ làm đúng một lượng nhất định. ✓
  • Vì buổi chiều tiệm đóng cửa.
  • Vì buổi chiều mới xay đậu.
  • Vì ông chủ nghỉ vào buổi chiều.
Thứ Bảy tuần trước người kể chuyện đã làm gì?
  • Đi mua đậu phụ vào buổi chiều.
  • Tự làm đậu phụ ở nhà.
  • Đi mua đậu phụ từ sáng sớm. ✓
  • Nhờ hàng xóm mua đậu phụ.
Điều người kể chuyện muốn nói nhất là gì?
  • Đậu phụ phải ăn không chấm nước tương mới ngon.
  • Mua đậu phụ vào sáng cuối tuần đã trở thành niềm vui. ✓
  • Đậu phụ ở chợ đắt hơn đậu phụ ở siêu thị.
  • Không thể tin lời hàng xóm.

🛒 Cùng số tiền, giỏ đồ nhẹ hơn

요즘 엄마는 장을 보고 오실 때마다 장바구니가 가벼워졌다고 하세요.
Dạo này mỗi lần đi chợ về, mẹ lại bảo giỏ đồ nhẹ đi.
채소와 고기 가격이 조금씩 올라서 같은 돈으로 살 수 있는 양이 줄었기 때문이에요.
Đó là vì giá rau và thịt tăng dần nên cùng số tiền thì mua được ít hơn.
어제도 엄마는 영수증을 보시며 “작년만 같아도 이 돈이면 장바구니가 꽉 찼을 텐데.” 하셨어요.
Hôm qua mẹ cũng nhìn hóa đơn rồi nói: “Chỉ cần như năm ngoái thôi thì số tiền này đã đầy giỏ rồi.”
그래서 우리 가족은 장보기 방법을 조금 바꿔 보기로 했어요.
Vì vậy gia đình mình quyết định thay đổi cách đi chợ một chút.
먼저 냉장고에 있는 재료를 확인하고 꼭 필요한 것만 적어서 가요.
Trước tiên, nhà mình kiểm tra nguyên liệu trong tủ lạnh rồi chỉ ghi lại những thứ thật sự cần.
또 시장이 문을 닫기 한 시간 전쯤 가서 싸게 파는 채소를 사요.
Ngoài ra, nhà mình đi chợ khoảng một tiếng trước khi chợ đóng cửa để mua rau được bán rẻ.
모양이 조금 못생겨도 맛은 똑같은 과일을 고르니 장바구니가 다시 무거워졌어요.
Nhờ chọn những loại quả hơi xấu mã nhưng vị vẫn y như vậy, giỏ đồ nhà mình lại nặng trở lại.
Vì sao mẹ nói giỏ đồ nhẹ đi?
  • Vì mẹ không hay đi chợ.
  • Vì đã mua giỏ đồ mới.
  • Vì cả nhà ăn ít.
  • Vì cùng số tiền mà mua được ít hơn. ✓
Điều nào KHÔNG phải là cách gia đình đi chợ dạo này?
  • Mua thật nhiều một lần để dự trữ. ✓
  • Chỉ ghi những thứ cần thiết rồi mang đi.
  • Đi chợ lúc gần đóng cửa.
  • Mua quả xấu mã nhưng ngon.
Nội dung nào đúng với bài đọc?
  • Năm ngoái vật giá cao hơn bây giờ.
  • Mẹ đã thôi không đi chợ nữa.
  • Gia đình đi chợ ngay khi chợ vừa mở cửa.
  • Với cùng số tiền, gia đình lại mua được nhiều hơn. ✓

🍳 Món japchae sau một video

이번 주말에 남편의 회사 동료들이 우리 집에 저녁을 먹으러 오기로 했어요.
Cuối tuần này, đồng nghiệp của chồng mình sẽ đến nhà ăn tối.
그런데 요리를 거의 해 본 적이 없는 남편이 잡채를 직접 만들겠다고 했어요.
Thế nhưng chồng mình, người gần như chưa từng nấu ăn, lại bảo sẽ tự tay làm món japchae.
어젯밤에 요리 영상을 한 번 보고 자신감이 생겼다는 거예요.
Anh ấy bảo tối qua xem video nấu ăn một lần là đã thấy tự tin.
저는 “영상 한 번 봤다고 손님상에 잡채를 올리게요?” 하고 웃으며 물었어요.
Mình cười hỏi: “Xem video có một lần mà định đãi khách món japchae à?”
결국 우리는 토요일 오전에 함께 연습해 보기로 했어요.
Cuối cùng, vợ chồng mình quyết định sáng thứ Bảy cùng nhau làm thử.
당면을 너무 오래 삶아서 처음에는 실패했지만 두 번째는 꽤 괜찮았어요.
Lần đầu thất bại vì luộc miến quá lâu, nhưng lần thứ hai thì khá ổn.
저녁에 동료들이 잡채를 칭찬하자 남편은 무척 뿌듯해했어요.
Buổi tối, khi các đồng nghiệp khen món japchae, chồng mình rất tự hào.
Vì sao người chồng nói sẽ làm món japchae?
  • Vì đồng nghiệp yêu cầu món japchae.
  • Vì xem video nấu ăn xong thấy tự tin. ✓
  • Vì người kể chuyện nấu ăn không giỏi.
  • Vì đã làm japchae nhiều lần.
Vì sao lần làm thử đầu tiên thất bại?
  • Vì luộc miến quá ít thời gian.
  • Vì cho quá nhiều rau.
  • Vì luộc miến quá lâu. ✓
  • Vì không xem video đến hết.
Nội dung nào đúng với bài đọc?
  • Người chồng được khách khen. ✓
  • Người chồng là người hay nấu ăn.
  • Hai người đã mua japchae về để đãi khách.
  • Họ đã làm thử vào chiều Chủ nhật.

🍜 Quán mì không bao giờ thay đổi

우리 동네 시장 한가운데에는 의자가 여섯 개뿐인 작은 국숫집이 있어요.
Ngay giữa chợ khu phố tôi có một quán mì nhỏ chỉ có sáu chiếc ghế.
주인 할머니는 삼십 년 동안 같은 자리에서 같은 방법으로 국수를 만들어 오셨어요.
Bà chủ quán đã làm mì ở cùng một chỗ, theo cùng một cách suốt ba mươi năm.
멸치와 다시마로 국물을 내고 면은 주문을 받은 후에야 삶으세요.
Bà nấu nước dùng bằng cá cơm và tảo bẹ, và chỉ luộc mì sau khi nhận được gọi món.
몇 년 전 시장을 새로 단장할 때 가게를 넓히자는 제안도 있었대요.
Nghe nói vài năm trước, khi chợ được sửa sang lại, còn có người đề nghị mở rộng quán.
하지만 할머니는 손님 얼굴을 보며 국수를 말아 주고 싶다며 거절하셨어요.
Nhưng bà đã từ chối, nói rằng muốn vừa nhìn mặt khách vừa làm mì cho họ.
그래서인지 이 가게에는 어릴 때부터 오던 손님들이 지금도 많아요.
Có lẽ vì vậy mà quán này đến giờ vẫn có nhiều khách đã đến ăn từ khi còn nhỏ.
저도 마음이 허전한 날이면 이 집 국수 한 그릇으로 위로를 받아요.
Tôi cũng vậy, những hôm thấy lòng trống trải, một bát mì ở quán này lại an ủi tôi.
Vì sao bà chủ không mở rộng quán?
  • Vì chợ không cho phép mở rộng quán.
  • Vì bà muốn vừa nhìn mặt khách vừa đưa món ăn cho họ. ✓
  • Vì bà không có tiền để mở rộng quán.
  • Vì quán không có nhiều khách lắm.
Điều nào đúng về quán mì này?
  • Nước dùng được nấu từ thịt.
  • Quán có hơn hai mươi chiếc ghế.
  • Mì được luộc sau khi nhận gọi món. ✓
  • Vài năm trước quán đã chuyển chỗ.
Qua bài viết này có thể biết được điều gì?
  • Bà chủ mới mở quán mì gần đây.
  • Người viết lần đầu đến quán này.
  • Bà chủ thường thử công thức mới.
  • Có nhiều khách đã đến quán này từ lâu. ✓

🍲 Bí mật của món canh đậm đà hơn

저는 혼자 산 지 이 년이 됐는데 된장찌개만큼은 자주 끓여 먹어요.
Tôi sống một mình đã được hai năm, riêng canh tương đậu thì tôi hay tự nấu ăn.
그런데 아무리 레시피대로 해도 엄마가 해 주시던 맛이 나지 않았어요.
Nhưng dù có làm đúng theo công thức đến đâu, vẫn không ra được vị như mẹ từng nấu.
지난달 고향에 갔을 때 할머니께서 직접 담그신 된장을 한 통 싸 주셨어요.
Tháng trước khi về quê, bà đã gói cho tôi một hộp tương đậu do chính tay bà làm.
그 된장으로 찌개를 끓였더니 맛이 훨씬 깊고 구수해졌어요.
Tôi nấu canh bằng tương đậu đó thì vị trở nên đậm đà và thơm bùi hơn hẳn.
할머니 된장을 넣어서인지 한 숟가락 먹자마자 어린 시절이 떠올랐어요.
Có lẽ vì cho tương đậu của bà vào nên vừa ăn một thìa, tuổi thơ đã hiện về trong tôi.
엄마께 전화로 말씀드리니 엄마도 늘 할머니 된장을 쓰셨다고 하셨어요.
Khi tôi gọi điện kể cho mẹ, mẹ nói mẹ cũng luôn dùng tương đậu của bà.
저는 이제야 그동안 부족했던 맛의 비밀을 알게 됐어요.
Đến giờ tôi mới biết được bí mật của hương vị còn thiếu bấy lâu nay.
Vì sao vị canh của người viết thay đổi?
  • Vì đã cho tương đậu do bà làm vào. ✓
  • Vì đã tìm được công thức mới.
  • Vì mẹ đã dạy cách nấu.
  • Vì đã mang rau từ quê lên.
Mẹ đã nói gì qua điện thoại?
  • Mẹ nói mẹ không hay nấu canh tương đậu.
  • Mẹ nói sẽ mua tương đậu mới gửi cho.
  • Mẹ nói mẹ luôn dùng tương đậu của bà. ✓
  • Mẹ nói phải nấu đúng theo công thức.
Điều nào giống với nội dung bài viết?
  • Người viết hầu như không ăn canh tương đậu.
  • Người viết đã sống một mình được hai năm. ✓
  • Bà đã gửi tương đậu qua bưu điện.
  • Mẹ mua tương đậu ở cửa hàng để dùng.

🦀 Chọn sạp ở chợ hải sản đông đúc

지난 주말에 저는 친구 도윤이와 바닷가 근처의 수산 시장에 갔어요.
Cuối tuần trước, tôi cùng bạn Doyun đến chợ hải sản gần bờ biển.
시장에 들어서자마자 여기저기서 상인들이 손님을 불렀어요.
Vừa bước vào chợ, các tiểu thương ở khắp nơi đã gọi mời khách.
몇몇 상인들은 우리 팔을 잡고 자기 가게로 오라고 계속 졸라 댔어요.
Vài người bán còn nắm tay chúng tôi, cứ nài nỉ mãi bảo vào sạp của họ.
정신이 하나도 없던 우리는 주인이 조용히 생선을 손질하고 있는 가게 앞에 멈춰 섰어요.
Đang rối hết cả lên, chúng tôi dừng lại trước một sạp có bà chủ đang lặng lẽ làm cá.
그 가게 아주머니는 오늘 들어온 생선이 무엇인지 차분하게 설명해 주셨어요.
Cô chủ sạp đó bình tĩnh giải thích cho chúng tôi hôm nay có những loại cá nào mới về.
우리는 그 설명을 듣고 광어와 새우를 사서 근처 식당에서 먹었어요.
Nghe cô giải thích xong, chúng tôi mua cá bơn và tôm rồi ăn ở một quán gần đó.
큰 소리보다 친절한 설명이 손님의 마음을 더 움직인다는 것을 느꼈어요.
Tôi cảm nhận được rằng lời giải thích tận tình làm lay động lòng khách hơn là tiếng gọi lớn.
Vì sao hai người dừng lại trước sạp yên tĩnh?
  • Vì cá ở sạp đó rẻ nhất.
  • Vì đó là sạp mà Doyun quen.
  • Vì chỉ có một sạp bán cá bơn.
  • Vì người bán cứ gọi mãi khiến họ rối hết cả lên. ✓
Cô chủ sạp yên tĩnh đã làm gì?
  • Bình tĩnh giải thích về cá mới về hôm đó. ✓
  • Nắm tay hai người và gọi vào sạp.
  • Bán cá với giá một nửa.
  • Cùng hai người đến quán ăn.
Điều người viết muốn nói nhất là gì?
  • Không nên đi chợ hải sản vào cuối tuần.
  • Cá nên ăn ở quán thì ngon hơn.
  • Người bán phải gọi khách thật to.
  • Lời giải thích tận tình hiệu quả hơn tiếng gọi lớn. ✓

🐚 Mì kalguksu nghêu đầy cát

저는 바지락을 넣은 칼국수를 좋아해서 직접 만들어 보기로 했어요.
Tôi thích món kalguksu nấu nghêu nên quyết định thử tự làm.
시장에서 싱싱한 바지락을 한 봉지 사 와서 바로 씻어 냄비에 넣었어요.
Tôi mua một túi nghêu tươi ở chợ về, rửa xong cho ngay vào nồi.
그런데 국물을 한 숟가락 먹자마자 입안에서 모래가 씹혔어요.
Nhưng vừa húp một thìa nước dùng, tôi đã nhai phải cát trong miệng.
저는 바지락을 해감할 줄 몰라서 모래를 빼지 않고 요리한 거예요.
Tôi không biết cách cho nghêu nhả cát nên đã nấu luôn mà không loại bỏ cát.
다음 날 조개 가게 사장님께 여쭤보니 소금물에 담가 어두운 곳에 두면 된다고 하셨어요.
Hôm sau tôi hỏi bà chủ tiệm bán sò ốc, bà bảo chỉ cần ngâm vào nước muối rồi để ở chỗ tối là được.
말씀대로 한 시간쯤 두었더니 바지락이 모래를 뱉어 냈어요.
Làm theo lời bà, tôi để khoảng một tiếng thì nghêu nhả hết cát ra.
두 번째로 끓인 칼국수는 모래 없이 시원하고 맛있었어요.
Món kalguksu nấu lần thứ hai không còn cát, nước dùng thanh mát và ngon.
Vì sao món kalguksu làm lần đầu có cát?
  • Vì nghêu không tươi.
  • Vì chưa loại bỏ cát trong nghêu. ✓
  • Vì không rửa sạch nồi.
  • Vì cho quá nhiều nước muối.
Bà chủ tiệm bảo làm thế nào?
  • Bảo cho ngay vào nước nóng.
  • Bảo mua nghêu mới.
  • Bảo ngâm vào nước muối rồi để ở chỗ tối. ✓
  • Bảo để ở chỗ sáng trong một ngày.
Điều nào giống với nội dung bài viết?
  • Món kalguksu lần thứ hai không có cát. ✓
  • Người viết vốn đã biết cách cho nghêu nhả cát.
  • Nghêu được ngâm trong nước muối suốt một ngày.
  • Người viết quyết định mua kalguksu ăn.

🥒 Vì sao rau của tôi cứ bị hỏng

저는 회사 일이 바빠서 저녁을 밖에서 먹는 날이 많아요.
Vì bận việc công ty nên tôi thường ăn tối ở ngoài.
그런데도 주말마다 대형 마트에서 채소를 잔뜩 사 오곤 했어요.
Thế nhưng cuối tuần nào tôi cũng hay mua một đống rau ở siêu thị lớn về.
집에서 요리를 거의 안 하는 탓에 냉장고 속 채소가 자주 시들고 상했어요.
Vì hầu như không nấu ăn ở nhà nên rau trong tủ lạnh thường bị héo và hỏng.
시든 오이와 상추를 버릴 때마다 돈도 아깝고 마음도 불편했어요.
Mỗi lần vứt dưa chuột và rau xà lách bị héo, tôi vừa tiếc tiền vừa thấy áy náy.
그래서 요즘은 퇴근길에 동네 채소 가게에 들러 그날 먹을 만큼만 사요.
Vì vậy dạo này trên đường đi làm về, tôi ghé tiệm rau trong khu phố và chỉ mua đủ ăn trong ngày.
그 가게에서는 오이 한 개나 대파 반 단도 살 수 있어서 편해요.
Ở tiệm đó có thể mua cả một quả dưa chuột hay nửa bó hành boa-rô nên rất tiện.
조금씩 자주 사니까 버리는 채소가 거의 없어지고 요리하는 날도 늘었어요.
Mua ít một và thường xuyên nên rau bỏ đi gần như không còn, số ngày tôi nấu ăn cũng tăng lên.
Vì sao rau trong tủ lạnh thường bị hỏng?
  • Vì tủ lạnh bị hỏng.
  • Vì người viết hầu như không nấu ăn ở nhà. ✓
  • Vì rau ở tiệm rau không tươi.
  • Vì người viết mua quá ít rau.
Điểm tốt của tiệm rau trong khu phố là gì?
  • Có nhiều loại rau hơn siêu thị lớn.
  • Mở cửa cả lúc khuya.
  • Có thể mua từng ít một, chỉ đủ dùng. ✓
  • Giao rau tận nhà.
Điều nào giống với nội dung bài viết?
  • Người viết bây giờ vẫn mua nhiều rau vào cuối tuần.
  • Người viết luôn ăn tối ở nhà.
  • Tiệm rau chỉ bán hành boa-rô theo cả bó.
  • Dạo này số ngày người viết nấu ăn đã tăng lên. ✓
Luyện tập miễn phí trong ứng dụng →