20 bài đọc trình độ TOPIK II thuộc chủ đề “Thủ công”, mỗi bài có bản dịch từng câu và câu hỏi đọc hiểu.
🪵 Con dấu khắc tay
아버지의 정년 퇴임을 앞두고 저는 오래 남을 선물을 고민하고 있었어요.
Trước ngày bố nghỉ hưu, tôi đã đắn đo chọn một món quà có thể giữ được lâu.
그러다 시장 골목 안쪽에서 사십 년째 손으로 도장을 새기는 작은 가게를 알게 됐어요.
Rồi tôi biết đến một tiệm nhỏ sâu trong con hẻm chợ, nơi đã khắc dấu bằng tay suốt bốn mươi năm.
요즘은 서명으로 대부분의 일을 처리해서 도장을 새기는 사람이 많이 줄었다고 해요.
Nghe nói dạo này hầu hết mọi việc đều xử lý bằng chữ ký nên người đi khắc dấu đã giảm đi nhiều.
하지만 손으로 새긴 도장은 쓸수록 정이 들더라는 회사 선배의 말이 계속 마음에 남았어요.
Nhưng lời một đàn anh ở công ty rằng con dấu khắc tay càng dùng càng thấy gắn bó cứ đọng lại trong lòng tôi.
할아버지 사장님은 아버지 이름을 종이에 여러 번 써 보신 뒤에야 나무에 칼을 대셨어요.
Ông chủ tiệm lớn tuổi viết tên bố tôi ra giấy nhiều lần rồi mới đặt dao lên gỗ.
도장 하나를 완성하는 데 사흘이 걸렸고, 획마다 굵기가 조금씩 달라서 더 따뜻해 보였어요.
Mất ba ngày mới hoàn thành một con dấu, và vì mỗi nét có độ đậm nhạt hơi khác nhau nên trông càng ấm áp hơn.
사장님은 기계로 새기면 빠르지만 똑같은 도장이 수없이 나올 수 있다고 하셨어요.
Ông chủ nói khắc bằng máy thì nhanh nhưng có thể tạo ra vô số con dấu giống hệt nhau.
아버지는 퇴임식 날 그 도장을 받으시고 한참 동안 손바닥 위에 올려놓고 보셨어요.
Vào ngày lễ nghỉ hưu, bố nhận con dấu rồi đặt trên lòng bàn tay ngắm nhìn rất lâu.
Ông chủ tiệm đã làm gì trước khi khắc con dấu?
- Viết tên người bố ra giấy nhiều lần. ✓
- Gọi điện cho người bố để hỏi tên.
- Thử khắc tên bằng máy trước.
- Đi chợ mua gỗ.
Vì sao người này quyết định tặng con dấu khắc tay?
- Vì con dấu tiện hơn chữ ký.
- Vì người bố muốn có một con dấu.
- Vì lời đàn anh nói rằng càng dùng càng thấy gắn bó. ✓
- Vì rẻ hơn con dấu làm bằng máy.
Nội dung nào đúng với bài đọc?
- Dạo này người đi khắc dấu nhiều hơn.
- Mất ba ngày để hoàn thành con dấu. ✓
- Ông chủ khắc dấu bằng máy.
- Người bố nhận con dấu và dùng ngay.
🎹 Người thợ lên dây đàn bằng tai
우리 집 거실에는 제가 어릴 때부터 치던 오래된 피아노가 한 대 있어요.
Trong phòng khách nhà tôi có một cây đàn piano cũ mà tôi chơi từ hồi nhỏ.
몇 년 동안 거의 치지 않다가 올겨울 다시 연습을 시작했는데 소리가 영 이상했어요.
Mấy năm liền tôi hầu như không chơi, đến mùa đông năm nay tập lại thì tiếng đàn nghe lạ hẳn.
그래서 동네에서 삼십 년째 피아노를 고쳐 온 조율사 선생님을 집으로 모셨어요.
Vì vậy, tôi mời về nhà một thầy lên dây đàn đã sửa piano trong khu phố suốt ba mươi năm.
선생님은 들어오시자마자 피아노가 난방기 바로 옆에 놓인 것을 보고 고개를 저으셨어요.
Vừa bước vào, thầy thấy cây đàn đặt ngay cạnh máy sưởi liền lắc đầu.
겨울에 실내가 너무 건조해지면 나무가 줄어들어서 줄이 쉽게 풀린다고 하셨어요.
Thầy nói mùa đông trong nhà quá khô thì gỗ sẽ co lại nên dây đàn dễ bị chùng.
어쩐지 겨울만 되면 소리가 더 이상하더라니, 피아노를 둔 자리가 문제였던 거예요.
Thảo nào cứ đến mùa đông là tiếng đàn lại lạ hơn, hóa ra vấn đề nằm ở chỗ đặt đàn.
선생님은 기계 없이 귀로만 건반 하나하나의 소리를 맞추시느라 두 시간 넘게 일하셨어요.
Thầy làm hơn hai tiếng đồng hồ, chỉ dùng tai để chỉnh âm từng phím đàn mà không cần máy móc.
피아노를 창가 쪽으로 옮기고 나서 지금은 맑은 소리로 다시 연습하고 있어요.
Sau khi chuyển đàn ra phía cửa sổ, giờ tôi lại tập đàn với tiếng đàn trong trẻo.
Thầy lên dây đàn đã chỉnh âm bằng cách nào?
- Đo âm của phím đàn bằng máy.
- Thay toàn bộ dây đàn bằng dây mới.
- Chỉnh bằng cách so với âm thanh đã ghi âm.
- Chỉ dùng tai để chỉnh âm phím đàn. ✓
Vì sao tiếng đàn piano trở nên lạ?
- Vì cây đàn đặt cạnh máy sưởi. ✓
- Vì dây đàn đã quá cũ.
- Vì người này chơi đàn quá mạnh tay.
- Vì gió lạnh lùa vào từ cửa sổ.
Qua bài đọc này có thể biết được điều gì?
- Nên đặt đàn piano cạnh máy sưởi.
- Lên dây đàn thường chỉ mất mười phút.
- Người này đã mua đàn piano mới.
- Không khí khô ảnh hưởng đến âm thanh của đàn piano. ✓
🔨 Câu hỏi của người thợ cả đồ đồng
한 산골 마을에는 오십 년 넘게 방짜 유기를 만들어 온 장인이 있어요.
Ở một ngôi làng miền núi có một nghệ nhân đã làm đồ đồng rèn thủ công hơn năm mươi năm.
어느 날 서울에서 온 스물다섯 살 청년 민호 씨가 이 일을 배우고 싶다며 공방에 찾아왔어요.
Một ngày nọ, chàng thanh niên hai mươi lăm tuổi Minho từ Seoul đến xưởng, nói rằng muốn học nghề này.
장인은 청년을 먼저 만난 제자에게 “그 젊은이는 왜 이 힘든 일을 하겠답니까?” 하고 물었어요.
Người nghệ nhân hỏi người học trò đã gặp chàng thanh niên trước: “Cậu trai ấy bảo vì sao lại muốn làm công việc vất vả này?”
제자는 청년이 할아버지가 쓰시던 유기 그릇을 보고 반해서 왔다고 대답했어요.
Người học trò trả lời rằng chàng thanh niên đến vì say mê chiếc bát đồng mà ông nội cậu từng dùng.
장인은 쇠를 수천 번 두드려야 그릇 하나가 나온다며 쉽게 허락하지 않았어요.
Người nghệ nhân nói phải đập kim loại hàng nghìn lần mới ra được một chiếc bát, nên không dễ dàng đồng ý.
하지만 청년은 석 달 동안 매일 공방 청소를 하며 기다렸어요.
Nhưng chàng thanh niên vẫn chờ đợi, ngày nào cũng dọn dẹp xưởng suốt ba tháng.
결국 장인은 청년의 끈기를 인정하고 망치를 쥐는 법부터 가르치기 시작했어요.
Cuối cùng, người nghệ nhân công nhận sự kiên trì của chàng thanh niên và bắt đầu dạy từ cách cầm búa.
지금 민호 씨는 오 년째 공방에서 일하며 자기 이름을 새긴 첫 그릇을 준비하고 있어요.
Giờ đây, Minho đã làm ở xưởng được năm năm và đang chuẩn bị chiếc bát đầu tiên khắc tên mình.
Người nghệ nhân đã hỏi học trò điều gì?
- Hỏi chàng thanh niên từ Seoul đến vào ngày nào.
- Hỏi lý do chàng thanh niên muốn làm nghề này. ✓
- Hỏi giá chiếc bát mà chàng thanh niên mang đến.
- Hỏi tên ông nội của chàng thanh niên.
Lý do phù hợp khiến lúc đầu người nghệ nhân không dễ dàng đồng ý là gì?
- Vì trong xưởng không có chỗ làm việc.
- Vì chàng thanh niên dọn dẹp không giỏi.
- Vì làm đồ đồng là công việc rất vất vả. ✓
- Vì chàng thanh niên đã quá nhiều tuổi.
Nội dung nào đúng với bài đọc?
- Chàng thanh niên được học nghề sau khi chờ đợi ba tháng. ✓
- Chàng thanh niên học cách làm đồ đồng từ ông nội.
- Người nghệ nhân nhận chàng thanh niên làm học trò ngay khi vừa gặp.
- Chàng thanh niên đã bán chiếc bát khắc tên mình rồi.
🏺 Lò nung onggi trăm năm tuổi
지난 주말에 저는 전통 옹기를 만드는 시골 공방에 구경하러 갔어요.
Cuối tuần trước, tôi đi tham quan một xưởng ở vùng quê chuyên làm gốm onggi truyền thống.
공방 뒤쪽 언덕에는 흙으로 길게 쌓아 올린 오래된 가마가 있었어요.
Trên ngọn đồi phía sau xưởng có một lò nung cũ, dài, được đắp bằng đất.
안내를 맡은 직원은 “주인 어르신 말씀으로는 이 가마가 백 년이 넘었답니다.” 하고 설명했어요.
Nhân viên hướng dẫn giải thích: “Theo lời cụ chủ xưởng thì cái lò này đã hơn trăm năm rồi đấy.”
옹기는 흙 속의 작은 구멍으로 공기가 드나들어서 김치나 장이 잘 익는다고 해요.
Người ta nói không khí ra vào qua những lỗ nhỏ trong đất của onggi nên kim chi và tương lên men rất ngon.
그런데 요즘은 플라스틱 통을 쓰는 집이 많아서 옹기를 찾는 사람이 크게 줄었대요.
Nhưng nghe nói dạo này nhiều nhà dùng thùng nhựa nên người tìm mua onggi giảm đi rất nhiều.
그래서 공방에서는 체험 수업을 열어 사람들에게 옹기의 가치를 알리고 있어요.
Vì vậy, xưởng mở các lớp trải nghiệm để giới thiệu cho mọi người giá trị của onggi.
저는 된장을 담글 작은 항아리 하나를 샀는데, 무거워서 집으로 보내 달라고 부탁했어요.
Tôi mua một chiếc vại nhỏ để làm tương doenjang, vì nặng nên đã nhờ họ gửi về nhà.
그 항아리가 도착하면 어머니와 함께 된장을 담가 볼 생각이에요.
Khi chiếc vại đến nơi, tôi định cùng mẹ làm tương doenjang.
Điều nào đúng về lò nung của xưởng?
- Đó là lò mới xây gần đây.
- Đó là lò đã hơn trăm năm tuổi. ✓
- Đó là lò do chính nhân viên đắp.
- Đó là lò nằm ở sân trước của xưởng.
Vì sao người tìm mua onggi giảm đi?
- Vì giá onggi tăng mạnh.
- Vì không còn ai làm kim chi nữa.
- Vì có nhiều nhà dùng thùng nhựa hơn. ✓
- Vì các xưởng onggi đều đã đóng cửa.
Nội dung nào đúng với bài đọc?
- Người này đã tự mang chiếc vại về ngay hôm đó.
- Người này đã làm một chiếc vại trong lớp trải nghiệm.
- Xưởng này không mở lớp trải nghiệm.
- Chiếc vại người này mua sẽ được gửi về nhà sau. ✓
🧵 Chờ mùa nhuộm chàm
우리 이모는 쉰이 넘어서 천연 염색을 배우고 싶다며 시골의 한 공방에 전화를 하셨어요.
Dì tôi đã ngoài năm mươi, nói muốn học nhuộm tự nhiên nên gọi điện cho một xưởng ở vùng quê.
봄에 바로 시작하고 싶었지만 공방에서는 여름까지 기다려야 한다는 대답이 돌아왔어요.
Dì muốn bắt đầu ngay vào mùa xuân, nhưng xưởng trả lời rằng phải đợi đến mùa hè.
이모는 아쉬운 얼굴로 “선생님 말씀이 쪽물은 칠월이 지나야 들일 수 있답디다.” 하셨어요.
Dì tiếc nuối nói: “Cô giáo bảo nhuộm nước chàm phải qua tháng bảy mới làm được.”
쪽은 파란 물을 얻는 풀인데 잎이 충분히 자라는 한여름에만 염료를 만들 수 있대요.
Chàm là loại cây cho ra nước màu xanh lam, nghe nói chỉ vào giữa mùa hè khi lá đã đủ lớn mới làm được thuốc nhuộm.
칠월 말, 저도 이모를 따라 공방에 가서 하얀 손수건을 쪽물에 담가 봤어요.
Cuối tháng bảy, tôi cũng theo dì đến xưởng và thử nhúng một chiếc khăn tay trắng vào nước chàm.
물에서 막 꺼낸 천은 초록빛이었는데 바람을 맞자 조금씩 파랗게 변해서 신기했어요.
Tấm vải vừa lấy ra khỏi nước có màu xanh lục, nhưng gặp gió thì dần dần chuyển sang xanh lam, thật kỳ diệu.
선생님은 원하는 색이 나올 때까지 담그고 말리기를 열 번도 넘게 되풀이한다고 하셨어요.
Cô giáo nói phải lặp lại việc nhúng rồi phơi hơn mười lần cho đến khi ra được màu mong muốn.
그날 만든 손수건은 색이 고르지 않지만 저에게는 어떤 물건보다 소중해요.
Chiếc khăn tay làm hôm đó màu không đều, nhưng đối với tôi nó quý hơn bất cứ thứ gì.
Dì đã nhận được câu trả lời gì từ xưởng?
- Rằng phải đợi đến mùa hè. ✓
- Rằng xưởng sắp đóng cửa.
- Rằng học phí đã tăng nhiều.
- Rằng đã kín chỗ rồi.
Vì sao nhuộm chàm chỉ làm được vào mùa hè?
- Vì mùa hè xưởng ít khách.
- Vì chỉ những ngày nóng vải mới khô tốt.
- Vì lúc đó lá chàm mới đủ lớn. ✓
- Vì cô giáo bận vào những mùa khác.
Nội dung nào đúng với bài đọc?
- Người này đã học nhuộm ở xưởng vào mùa xuân.
- Vải lấy ra từ nước chàm gặp gió sẽ chuyển sang xanh lam. ✓
- Chỉ cần nhúng vải một lần là ra màu mong muốn.
- Chiếc khăn tay người này làm có màu đều.
🥐 Lời đồn về tiệm bánh cũ
서연 씨는 작년에 아버지가 이십오 년 동안 운영하던 동네 빵집을 물려받았어요.
Năm ngoái, Seoyeon tiếp quản tiệm bánh trong khu phố mà bố cô đã kinh doanh suốt hai mươi lăm năm.
서연 씨는 가게를 밝게 꾸미고 젊은 손님들을 위해 새로운 빵도 몇 가지 내놓았어요.
Seoyeon trang trí lại cửa tiệm cho sáng sủa và còn đưa ra vài loại bánh mới cho khách trẻ.
그러자 오랜 단골들 사이에서는 빵 맛이 변했더라느니 크기가 작아졌더라느니 말이 많았어요.
Thế là giữa những khách quen lâu năm có nhiều lời bàn tán, nào là vị bánh đã thay đổi, nào là bánh nhỏ đi.
서연 씨는 속상했지만, 그 말들을 무시하지 않고 단골들에게 직접 의견을 묻기로 했어요.
Seoyeon buồn lòng, nhưng không phớt lờ những lời đó mà quyết định trực tiếp hỏi ý kiến các khách quen.
알고 보니 사람들이 가장 아쉬워한 것은 맛이 아니라 아버지의 단팥빵이 없어진 것이었어요.
Hóa ra điều mọi người tiếc nhất không phải là hương vị mà là chiếc bánh nhân đậu đỏ của bố cô không còn nữa.
서연 씨는 아버지께 다시 배워서 그 단팥빵을 옛날 방식 그대로 만들기 시작했어요.
Seoyeon học lại từ bố và bắt đầu làm loại bánh nhân đậu đỏ ấy đúng theo cách ngày xưa.
요즘 이 빵집에는 옛날 빵과 새로운 빵을 함께 사 가는 손님이 많아졌어요.
Dạo này ở tiệm bánh này, nhiều khách mua cả bánh cũ lẫn bánh mới.
서연 씨는 가게를 지키는 것이 무조건 아무것도 바꾸지 않는 것은 아니라는 걸 배웠대요.
Seoyeon nói cô đã học được rằng giữ gìn cửa tiệm không có nghĩa là nhất định không thay đổi gì cả.
Seoyeon đã làm gì sau khi tiếp quản cửa tiệm?
- Tăng giá bánh lên rất nhiều.
- Phát bánh cho khách quen.
- Chuyển cửa tiệm sang chỗ khác.
- Trang trí cửa tiệm cho sáng sủa. ✓
Điều các khách quen tiếc nhất là gì?
- Bánh nhân đậu đỏ ngày xưa không còn nữa. ✓
- Bánh bị nhỏ đi.
- Cửa tiệm trở nên quá sáng.
- Vị bánh đã thay đổi nhiều.
Ý chính của bài đọc này là gì?
- Tốt nhất là tuyệt đối không thay đổi cửa tiệm.
- Tốt nhất là phớt lờ lời đồn của khách.
- Phải bỏ các món cũ vì khách trẻ.
- Có thể vừa giữ gìn truyền thống vừa thêm vào cái mới. ✓
💐 Lời mẹ kể về hoa của tôi
저는 석 달 전에 대학 앞 작은 골목에 혼자 꽃집을 열었어요.
Ba tháng trước, tôi một mình mở một tiệm hoa trong con hẻm nhỏ trước cổng trường đại học.
처음에는 손님이 거의 없어서 매일 밤 가게를 계속할 수 있을지 걱정했어요.
Lúc đầu hầu như không có khách nên đêm nào tôi cũng lo không biết có duy trì được cửa tiệm không.
그러던 어느 날 근처에 사시는 어머니께서 전화를 하셨어요.
Rồi một ngày nọ, mẹ tôi sống ở gần đó gọi điện cho tôi.
어머니는 “옆집 아주머니가 네 꽃이 일주일이 지나도 싱싱하더라는구나.” 하고 말씀하셨어요.
Mẹ nói: “Cô hàng xóm bảo hoa của con để cả tuần vẫn còn tươi đấy.”
저는 매일 새벽 꽃 시장에 가서 가장 신선한 꽃만 고르는데, 그 노력을 알아준 것 같아 기뻤어요.
Ngày nào tôi cũng ra chợ hoa từ sáng sớm và chỉ chọn những bông tươi nhất, nên tôi vui vì có vẻ nỗ lực ấy đã được ghi nhận.
그 아주머니는 나중에 친구들에게도 제 가게를 소개해 주셨대요.
Nghe nói sau đó cô hàng xóm ấy còn giới thiệu tiệm của tôi cho bạn bè nữa.
요즘은 주말마다 꽃다발 예약이 들어올 만큼 손님이 늘었어요.
Dạo này khách đông đến mức cuối tuần nào cũng có người đặt bó hoa.
작은 가게일수록 손님 한 사람 한 사람의 믿음이 가장 큰 힘이 된다는 것을 느껴요.
Tôi cảm nhận rằng tiệm càng nhỏ thì niềm tin của từng vị khách càng trở thành sức mạnh lớn nhất.
Mẹ đã kể lại chuyện gì?
- Rằng cô hàng xóm sắp mở tiệm hoa.
- Rằng hoa của người này tươi được lâu. ✓
- Rằng bó hoa quá đắt.
- Rằng chợ hoa đóng cửa lúc sáng sớm.
Lý do phù hợp khiến hoa của người này tươi lâu là gì?
- Vì mẹ chọn hoa giúp.
- Vì tiệm hoa nằm ngay trước trường đại học.
- Vì ngày nào người này cũng tự tay chọn hoa tươi. ✓
- Vì mỗi tuần chỉ làm bó hoa một lần.
Nội dung nào đúng với bài đọc?
- Nhờ hàng xóm giới thiệu mà tiệm có thêm khách. ✓
- Người này mở tiệm hoa cùng với bạn.
- Ngay từ đầu tiệm đã rất đông khách.
- Mẹ đặt bó hoa mỗi tuần.
🪑 Chiếc ghế không lung lay
도윤 씨는 회사를 그만두고 목공소에서 의자 만드는 일을 배운 지 이 년이 되었어요.
Đã hai năm kể từ khi Doyun nghỉ việc ở công ty và học làm ghế ở một xưởng mộc.
그는 못을 쓰지 않고 나무끼리 끼워 맞추는 전통 방식을 고집하고 있어요.
Anh kiên trì với cách làm truyền thống là ghép các mảnh gỗ vào nhau mà không dùng đinh.
이 방식은 손이 많이 가서 의자 하나를 완성하는 데 보통 일주일이 넘게 걸려요.
Cách này tốn nhiều công sức nên hoàn thành một chiếc ghế thường mất hơn một tuần.
그래서 도윤 씨는 이렇게 느리게 일해도 괜찮은지 가끔 고민했어요.
Vì thế, đôi khi Doyun băn khoăn không biết làm chậm như vậy có ổn không.
그런데 어느 날 사장님이 “카페 주인이 네 의자는 일 년 넘게 써도 안 흔들리더라는군.” 하며 웃으셨어요.
Nhưng một hôm, ông chủ xưởng cười nói: “Chủ quán cà phê bảo ghế cậu làm dùng hơn một năm rồi mà chẳng lung lay gì cả.”
그 카페는 도윤 씨가 처음으로 의자 열 개를 만들어 보낸 곳이었어요.
Quán cà phê đó là nơi đầu tiên Doyun làm và gửi mười chiếc ghế đến.
그 말을 들은 뒤 도윤 씨는 빨리 만드는 것보다 오래 쓰게 만드는 것이 더 중요하다고 믿게 되었어요.
Sau khi nghe câu đó, Doyun tin rằng làm ra thứ dùng được lâu quan trọng hơn làm nhanh.
최근에는 그 카페 주인의 소개로 새 식당의 의자 주문도 받게 되었어요.
Gần đây, nhờ chủ quán cà phê ấy giới thiệu, anh còn nhận được đơn đặt ghế của một nhà hàng mới.
Doyun làm ghế theo cách nào?
- Dùng nhiều đinh để ghế chắc chắn.
- Ghép gỗ vào nhau mà không dùng đinh. ✓
- Dùng máy làm nhiều chiếc mỗi ngày.
- Giao một phần việc cho xưởng mộc khác.
Vì sao đôi khi Doyun băn khoăn?
- Vì ghế anh làm chẳng mấy chốc đã lung lay.
- Vì chủ quán cà phê đã trả lại ghế.
- Vì làm ghế mất nhiều thời gian. ✓
- Vì thường xuyên bị ông chủ xưởng mắng.
Ý chính của bài đọc này là gì?
- Ghế tốt nhất định phải bán giá cao.
- Cách làm truyền thống không hợp với khách hàng ngày nay.
- Nghỉ việc để khởi nghiệp là điều mạo hiểm.
- Làm cho dùng được lâu quan trọng hơn làm nhanh. ✓
🍡 Bớt đường trong bánh tteok
하은 씨의 가족은 전통 시장에서 삼대째 떡집을 하고 있어요.
Gia đình Haeun đã mở tiệm bánh tteok ở chợ truyền thống được ba đời.
이 가게는 쌀을 직접 빻아서 떡을 만들기 때문에 식감이 부드럽기로 유명해요.
Tiệm tự xay gạo để làm bánh nên nổi tiếng là bánh mềm.
그런데 지난주에 한 단골손님이 요즘 떡이 예전보다 좀 달다고 말했어요.
Nhưng tuần trước, một khách quen nói rằng dạo này bánh hơi ngọt hơn trước.
하은 씨는 어머니께 “단골손님이 요즘 떡이 좀 달더라는데, 설탕을 더 넣으셨어요?” 하고 여쭤봤어요.
Haeun hỏi mẹ: “Khách quen bảo dạo này bánh hơi ngọt, mẹ cho thêm đường ạ?”
알고 보니 젊은 손님들의 입맛에 맞추려고 어머니가 설탕을 조금씩 더 넣고 계셨던 거예요.
Hóa ra mẹ cô đã cho thêm đường từng chút một để hợp khẩu vị của khách trẻ.
하은 씨와 어머니는 오래 이야기를 나눈 끝에 원래의 맛으로 돌아가기로 했어요.
Sau khi trò chuyện rất lâu, Haeun và mẹ quyết định quay lại hương vị ban đầu.
대신 단맛을 좋아하는 손님을 위해 꿀을 따로 곁들여 주기로 했어요.
Thay vào đó, họ quyết định kèm mật ong riêng cho những khách thích ngọt.
그 후로 단골들은 떡에서 다시 쌀 맛이 난다며 반가워했어요.
Từ đó, các khách quen vui mừng nói rằng bánh lại có vị gạo.
Người khách quen đã nói gì?
- Nói rằng dạo này bánh hơi ngọt. ✓
- Nói rằng bánh quá cứng.
- Nói rằng lượng bánh đã ít đi.
- Nói rằng giá bánh đã tăng quá nhiều.
Vì sao bánh trở nên ngọt hơn?
- Vì bắt đầu mua gạo ở nơi khác.
- Vì Haeun làm ra loại bánh mới.
- Vì mẹ cho thêm đường từng chút một. ✓
- Vì bắt đầu cho mật ong vào trong bánh.
Nội dung nào đúng với bài đọc?
- Tiệm này mua bột gạo từ tiệm khác.
- Khách muốn vị ngọt sẽ được kèm mật ong riêng. ✓
- Các khách quen thích vị bánh ngọt hơn.
- Haeun không để tâm đến lời của khách.
👓 Ba tháng cho một cặp kính
저는 얼마 전에 손으로 안경테를 만드는 작은 공방에 다녀왔어요.
Cách đây không lâu, tôi đã đến một xưởng nhỏ làm gọng kính bằng tay.
그곳에서는 장인 한 분이 두꺼운 판을 직접 자르고 깎아서 안경테를 하나씩 만드세요.
Ở đó, một người thợ thủ công tự tay cắt và gọt những tấm vật liệu dày để làm từng chiếc gọng kính.
손님의 얼굴 모양과 코 높이를 재서 만들기 때문에 똑같은 안경테는 하나도 없어요.
Vì ông đo hình dáng khuôn mặt và độ cao sống mũi của từng khách để làm nên không có chiếc gọng nào giống hệt nhau.
공방 주문이 석 달이나 밀려 있더라니까 친구들은 처음에 제 말을 믿지 않았어요.
Khi tôi kể rằng đơn hàng của xưởng tồn đến tận ba tháng, lúc đầu bạn bè tôi không tin.
요즘 같은 시대에 안경 하나를 석 달이나 기다리는 사람이 있을지 의심했던 거예요.
Họ nghi ngờ thời buổi này lại có người chờ cả ba tháng chỉ vì một cặp kính.
하지만 장인은 서두르면 편하게 오래 쓸 수 있는 안경이 나오지 않는다고 하셨어요.
Nhưng người thợ nói rằng nếu làm vội thì sẽ không ra được cặp kính đeo thoải mái và dùng được lâu.
결국 저도 주문을 했고, 이번 겨울에 제 얼굴에 꼭 맞는 안경을 받을 예정이에요.
Cuối cùng tôi cũng đặt làm, và mùa đông năm nay tôi sẽ nhận được cặp kính vừa khít với khuôn mặt mình.
기다리는 시간조차 설레는 물건이 있다는 것을 처음 알게 되었어요.
Lần đầu tiên tôi biết rằng có những món đồ mà ngay cả thời gian chờ đợi cũng khiến lòng háo hức.
Vì sao gọng kính của xưởng này cái nào cũng khác nhau?
- Vì lần nào cũng mua vật liệu ở chỗ khác.
- Vì được làm cho vừa với khuôn mặt của từng khách. ✓
- Vì nhiều người thợ cùng nhau làm.
- Vì khách tự vẽ thiết kế.
Vì sao bạn bè không tin lời người này?
- Vì người này chưa từng đến xưởng.
- Vì kính quá đắt.
- Vì việc chờ cả ba tháng có vẻ kỳ lạ. ✓
- Vì xưởng đã đóng cửa rồi.
Nội dung nào đúng với bài đọc?
- Người này đã đặt kính và đang chờ. ✓
- Người này nhận được kính ngay tại xưởng.
- Xưởng này làm gọng kính bằng máy.
- Bạn bè của người này cũng đặt kính.
🔪 Con dao từ lò rèn quê nhà
제 고향 읍내에는 아직도 불에 달군 쇠를 두드려 칼과 농기구를 만드는 대장간이 있어요.
Ở thị trấn quê tôi vẫn còn một lò rèn làm dao và nông cụ bằng cách đập sắt nung đỏ.
할머니께서는 그 대장간에서 산 부엌칼 하나를 삼십 년 가까이 쓰셨어요.
Bà tôi đã dùng một con dao làm bếp mua ở lò rèn đó gần ba mươi năm.
그런데 서울 회사의 동료들은 요즘 누가 대장간에서 칼을 사느냐며 웃었어요.
Nhưng đồng nghiệp ở công ty tại Seoul cười, hỏi thời này ai còn mua dao ở lò rèn.
저는 “정말 그 집 칼은 오래 써도 잘 무뎌지지 않더라니까요.” 하고 몇 번이나 말했어요.
Tôi đã nói đi nói lại: “Thật mà, dao nhà đó dùng lâu cũng chẳng mấy khi cùn đâu.”
결국 지난 명절에 고향에 내려가서 동료 두 명을 위해 그 대장간에서 칼을 사 왔어요.
Cuối cùng, dịp lễ vừa rồi về quê, tôi đã mua dao ở lò rèn đó cho hai đồng nghiệp.
대장장이 아저씨는 칼을 건네며 가끔 숫돌에 갈아 주기만 하면 평생 쓸 수 있다고 하셨어요.
Bác thợ rèn đưa dao cho tôi và nói chỉ cần thỉnh thoảng mài trên đá mài là có thể dùng cả đời.
몇 달 뒤 동료들은 이제 다른 칼은 못 쓰겠다며 저에게 고맙다고 했어요.
Vài tháng sau, các đồng nghiệp cảm ơn tôi, nói rằng giờ họ không dùng nổi dao nào khác nữa.
오래 쓰는 물건에는 만든 사람의 시간과 정성이 담겨 있다는 것을 다시 느꼈어요.
Tôi lại một lần nữa cảm nhận rằng những món đồ dùng được lâu chứa đựng thời gian và tâm huyết của người làm ra chúng.
Điều nào đúng về người bà?
- Đã làm việc lâu năm ở lò rèn.
- Đã dùng cùng một con dao rất lâu. ✓
- Đã chuyển lên Seoul.
- Thường xuyên mua dao mới.
Lý do phù hợp khiến người này mua dao cho đồng nghiệp là gì?
- Vì đồng nghiệp nhờ mua dao làm quà dịp lễ.
- Vì bác thợ rèn tặng dao làm quà.
- Vì muốn cho họ thấy dao lò rèn rất tốt. ✓
- Vì dao của các đồng nghiệp đều bị gãy.
Nội dung nào đúng với bài đọc?
- Ngay từ đầu các đồng nghiệp đã muốn có dao lò rèn.
- Dao lò rèn không cần mài.
- Người này mua dao ở Seoul.
- Các đồng nghiệp hài lòng với dao lò rèn. ✓
👜 Chiếc túi dùng được mười năm
저는 대학을 졸업하고 취직하면서 좋은 가방을 하나 사고 싶었어요.
Khi tốt nghiệp đại học và đi làm, tôi muốn mua một chiếc túi tốt.
백화점에서 몇 개를 봤지만 가격에 비해 바느질이 약해 보여서 망설였어요.
Tôi xem vài chiếc ở trung tâm thương mại nhưng so với giá thì đường may trông yếu nên còn do dự.
그때 사촌 언니가 “그 공방 가방은 좀 비싸도 십 년은 거뜬하더라니깐.” 하며 한 곳을 추천했어요.
Lúc đó chị họ tôi giới thiệu một chỗ: “Chị nói thật đấy, túi của xưởng đó hơi đắt nhưng dùng mười năm vẫn ngon lành.”
언니는 그 공방에서 산 가방을 대학 신입생 때부터 십 년 넘게 들고 다니고 있었어요.
Chị họ tôi đã đeo chiếc túi mua ở xưởng đó hơn mười năm, từ hồi còn là sinh viên năm nhất.
공방에 가 보니 주인은 가죽을 고르는 것부터 손바느질까지 모든 과정을 혼자 하고 있었어요.
Đến xưởng mới thấy bà chủ tự mình làm mọi công đoạn, từ chọn da đến khâu tay.
게다가 가방이 망가지면 언제든지 가져오라며 평생 수선을 약속해 주었어요.
Hơn nữa, bà còn hứa sửa miễn phí trọn đời, bảo túi hỏng lúc nào cứ mang đến.
가격은 백화점 가방과 비슷했지만, 저는 오래 쓸 수 있다는 점에 마음이 끌렸어요.
Giá cũng tương tự túi ở trung tâm thương mại, nhưng tôi bị thu hút bởi việc có thể dùng được lâu.
결국 저는 첫 월급으로 그 공방에서 제 이름이 새겨진 가방을 주문했어요.
Cuối cùng, tôi dùng tháng lương đầu tiên đặt ở xưởng đó một chiếc túi khắc tên mình.
Vì sao người này không mua túi ở trung tâm thương mại?
- Vì đường may trông yếu. ✓
- Vì không thích kiểu dáng.
- Vì kích cỡ quá nhỏ.
- Vì không có màu muốn mua.
Lý do phù hợp khiến chị họ giới thiệu xưởng này là gì?
- Vì chị thân với chủ xưởng.
- Vì túi của xưởng rẻ nhất.
- Vì chị đã tự dùng túi của mình rất lâu. ✓
- Vì chị từng làm thêm ở xưởng.
Nội dung nào đúng với bài đọc?
- Chủ xưởng làm việc cùng nhiều nhân viên.
- Xưởng này sửa túi trọn đời. ✓
- Người này mua chiếc túi giống chị họ.
- Người này đặt túi ở trung tâm thương mại.
📚 Mùa đông vắng lặng nhất của hiệu sách
저는 오 년 전부터 주택가 골목에서 작은 동네 서점을 운영하고 있어요.
Từ năm năm trước, tôi điều hành một hiệu sách nhỏ trong con hẻm khu dân cư.
개업 첫해 겨울에도 손님이 적더라마는, 지난겨울처럼 하루 종일 아무도 오지 않은 날은 없었어요.
Mùa đông năm đầu mở cửa khách cũng ít, nhưng chưa từng có ngày nào cả ngày không ai đến như mùa đông năm ngoái.
추운 날씨에 골목 앞 도로 공사까지 겹쳐서 사람들이 이 길로 잘 다니지 않았기 때문이에요.
Đó là vì trời lạnh lại thêm công trình sửa đường trước con hẻm nên mọi người ít đi qua đường này.
할 일이 없던 저는 책마다 그 책을 좋아하는 이유를 손글씨 쪽지로 써서 끼워 두었어요.
Không có việc gì làm, tôi viết tay những mảnh giấy nhỏ ghi lý do mình thích từng cuốn sách rồi kẹp vào trong.
그런데 봄이 되자 그 쪽지를 읽은 손님들이 자기 생각을 적은 답장을 남기기 시작했어요.
Thế rồi khi xuân đến, những vị khách đọc mảnh giấy bắt đầu để lại thư hồi âm viết suy nghĩ của mình.
어떤 책에는 서로 모르는 손님들의 쪽지가 열 장 넘게 쌓이기도 했어요.
Có cuốn sách còn tích lại hơn mười mảnh giấy của những vị khách không quen biết nhau.
쪽지를 읽으러 일부러 찾아오는 단골도 생겨서 매출도 조금씩 회복됐어요.
Còn có cả khách quen cố tình ghé đến chỉ để đọc những mảnh giấy, nên doanh thu cũng dần hồi phục.
저는 작은 서점이 책만 파는 곳이 아니라 사람을 이어 주는 곳이라는 것을 깨달았어요.
Tôi nhận ra rằng hiệu sách nhỏ không chỉ là nơi bán sách mà còn là nơi kết nối con người.
Vì sao mùa đông năm ngoái khách đến hiệu sách giảm đi?
- Vì hiệu sách đã chuyển đi chỗ khác.
- Vì giá sách đột nhiên tăng.
- Vì hiệu sách thường đóng cửa vào mùa đông.
- Vì trời lạnh lại thêm công trình sửa đường. ✓
Sau khi xuân đến, hiệu sách đã có thay đổi gì?
- Khách để lại thư hồi âm cho những mảnh giấy. ✓
- Công trình sửa đường trước hiệu sách lại bắt đầu.
- Chủ tiệm thôi không viết giấy nữa.
- Khách lấy đi hết những mảnh giấy.
Điều người kể chuyện muốn nói nhất là gì?
- Mùa đông nên đóng cửa hiệu sách.
- Mua sách trên mạng tiện hơn.
- Tốt nhất không kẹp gì vào sách.
- Hiệu sách nhỏ có thể trở thành nơi kết nối con người. ✓
🪵 Thêm hai chiếc thớt
현우 씨는 퇴근 후에 작은 작업실에서 나무 도마를 만들어 인터넷으로 팔고 있어요.
Sau giờ làm, Hyunwoo làm thớt gỗ trong một xưởng nhỏ và bán trên mạng.
그는 도마마다 나뭇결을 살려서 손으로 다듬고, 기름을 여러 번 발라 마무리해요.
Anh giữ nguyên vân gỗ của từng chiếc thớt, mài giũa bằng tay rồi quét dầu nhiều lần để hoàn thiện.
하지만 공장에서 만든 도마보다 값이 비싸서 처음에는 주문이 거의 없었어요.
Nhưng vì đắt hơn thớt làm ở nhà máy nên lúc đầu hầu như không có đơn hàng.
그러던 중 첫 손님이 몇 주 뒤에 다시 연락을 해 왔어요.
Rồi vài tuần sau, vị khách đầu tiên lại liên lạc với anh.
그 손님은 직접 써 보니 칼자국이 잘 안 남고 가볍더라며 같은 도마를 두 개 더 주문했어요.
Vị khách nói rằng dùng thử thấy thớt nhẹ và hầu như không để lại vết dao, rồi đặt thêm hai chiếc giống hệt.
하나는 결혼하는 동생에게, 하나는 어머니께 선물하겠다고 했어요.
Cô ấy nói một chiếc sẽ tặng em trai sắp cưới, một chiếc tặng mẹ.
그 후 그 손님이 남긴 정성스러운 후기 덕분에 주문이 조금씩 늘기 시작했어요.
Sau đó, nhờ bài đánh giá tận tâm mà vị khách ấy để lại, đơn hàng bắt đầu tăng dần.
현우 씨는 요즘 내년에 회사를 그만두고 작업실을 제대로 열 계획을 세우고 있어요.
Dạo này Hyunwoo đang lên kế hoạch năm sau nghỉ việc ở công ty và mở xưởng một cách đàng hoàng.
Vì sao vị khách đầu tiên đặt thêm thớt?
- Vì giá thớt đã giảm.
- Vì đã dùng thử và thấy ưng ý. ✓
- Vì chiếc thớt mua lần đầu bị vỡ.
- Vì Hyunwoo đã nhờ cô ấy.
Vì sao lúc đầu hầu như không có đơn hàng?
- Vì thớt quá nặng.
- Vì anh không bán trên mạng.
- Vì đắt hơn thớt nhà máy. ✓
- Vì không nhìn thấy vân gỗ.
Nội dung nào đúng với bài đọc?
- Hyunwoo hiện vẫn đang đi làm ở công ty. ✓
- Hyunwoo đã nghỉ việc ở công ty rồi.
- Vị khách đầu tiên tự dùng hết các chiếc thớt.
- Hyunwoo làm thớt bằng máy.
🍓 Cuộc tranh cãi vì dâu tây
수아 씨와 친구 성민 씨는 일 년 전에 함께 수제 잼을 만드는 작은 회사를 차렸어요.
Một năm trước, Sua và người bạn Seongmin cùng nhau mở một công ty nhỏ làm mứt thủ công.
두 사람은 처음부터 근처 농장에서 직접 받은 과일만 쓰기로 약속했어요.
Ngay từ đầu, hai người đã hứa chỉ dùng trái cây lấy trực tiếp từ nông trại gần đó.
그런데 올봄 딸기 값이 오르자 성민 씨가 값이 싼 수입 딸기로 바꾸자고 했어요.
Nhưng mùa xuân năm nay khi giá dâu tây tăng, Seongmin đề nghị đổi sang dâu nhập khẩu giá rẻ.
수아 씨는 “지난번엔 농장 딸기가 제일 향이 좋더라면서 왜 이제 와서 바꾸자는 거야?” 하고 따졌어요.
Sua chất vấn: “Lần trước cậu còn bảo dâu của nông trại thơm nhất cơ mà, sao giờ lại đòi đổi?”
성민 씨는 한숨을 쉬며 이대로 가면 회사 통장이 곧 바닥난다고 털어놓았어요.
Seongmin thở dài thú nhận rằng cứ thế này thì tài khoản của công ty sẽ sớm cạn sạch.
두 사람은 밤늦게까지 이야기한 끝에 병 크기를 조금 줄이고 농장 딸기를 계속 쓰기로 했어요.
Sau khi bàn bạc đến khuya, hai người quyết định giảm kích thước lọ một chút và tiếp tục dùng dâu của nông trại.
또 병에 농장 이름과 딸기를 딴 날짜를 적어서 정직한 재료라는 점을 강조했어요.
Họ còn ghi tên nông trại và ngày hái dâu lên lọ để nhấn mạnh rằng nguyên liệu là trung thực.
다행히 손님들은 그 정직함을 좋게 봐 주었고, 판매량도 줄지 않았어요.
May mắn là khách hàng đánh giá cao sự trung thực đó, và lượng bán cũng không giảm.
Vì sao Seongmin muốn đổi sang dâu nhập khẩu?
- Vì dâu của nông trại không còn thơm như trước.
- Vì giá dâu tăng nên thiếu tiền. ✓
- Vì khách hàng muốn dâu nhập khẩu.
- Vì nông trại đã ngừng trồng dâu.
Lý do phù hợp khiến Sua chất vấn Seongmin là gì?
- Vì Seongmin lén dùng tài khoản.
- Vì Seongmin đến trễ giờ hẹn.
- Vì Seongmin nói khác với điều cậu ấy từng nói trước đây. ✓
- Vì Seongmin làm vỡ lọ mứt.
Nội dung nào đúng với bài đọc?
- Hai người đã làm mứt bằng dâu nhập khẩu.
- Lượng bán mứt giảm mạnh.
- Hai người quyết định đóng cửa công ty.
- Hai người đã giảm kích thước lọ mứt. ✓
🧼 Trước khi mở tiệm xà phòng
다은 씨는 피부가 예민한 동생을 위해 천연 재료로 비누를 만들기 시작했어요.
Daeun bắt đầu làm xà phòng từ nguyên liệu thiên nhiên cho em gái có làn da nhạy cảm.
동생이 그 비누를 좋아하자 주변 사람들도 하나둘 비누를 부탁하기 시작했어요.
Khi em gái thích xà phòng đó, những người xung quanh cũng lần lượt bắt đầu nhờ cô làm.
그래서 다은 씨는 작은 비누 가게를 열기로 마음먹고 창업한 선배들을 찾아갔어요.
Vì vậy, Daeun quyết tâm mở một tiệm xà phòng nhỏ và tìm đến những người đàn anh, đàn chị đã từng khởi nghiệp.
선배들은 첫해에는 월세를 내기도 벅차더라지만, 다은 씨는 쉽게 포기하고 싶지 않았어요.
Các đàn anh, đàn chị kể rằng năm đầu đến tiền thuê nhà cũng khó mà trả nổi, nhưng Daeun không muốn dễ dàng bỏ cuộc.
그래서 바로 가게를 열지 않고 먼저 동네 벼룩시장에서 비누를 팔아 보며 손님들의 반응을 살폈어요.
Vì thế, cô không mở tiệm ngay mà trước hết thử bán xà phòng ở chợ đồ cũ trong khu phố để xem phản ứng của khách.
석 달 동안 어떤 향이 인기가 있는지, 가격은 얼마가 적당한지 꼼꼼히 기록했어요.
Trong ba tháng, cô ghi chép tỉ mỉ mùi hương nào được ưa chuộng và giá bao nhiêu là hợp lý.
그 기록 덕분에 다은 씨는 필요 없는 재료를 줄이고 인기 있는 제품에 집중할 수 있었어요.
Nhờ những ghi chép đó, Daeun đã có thể cắt giảm nguyên liệu không cần thiết và tập trung vào các sản phẩm được ưa chuộng.
다음 달이면 드디어 다은 씨의 이름을 건 작은 가게가 문을 열어요.
Tháng sau, cuối cùng tiệm nhỏ mang tên Daeun sẽ mở cửa.
Vì sao Daeun bắt đầu làm xà phòng?
- Vì em gái có làn da nhạy cảm. ✓
- Vì các đàn anh, đàn chị gợi ý mở tiệm xà phòng.
- Vì muốn kiếm tiền ở chợ đồ cũ.
- Vì được những người xung quanh tặng xà phòng.
Các đàn anh, đàn chị đã kể cho Daeun kinh nghiệm gì?
- Rằng xà phòng không bán được ở chợ đồ cũ.
- Rằng nguyên liệu thiên nhiên rất khó tìm.
- Rằng năm đầu đến tiền thuê nhà cũng khó trả. ✓
- Rằng tiệm phải mở ở đường lớn.
Nội dung nào đúng với bài đọc?
- Daeun nghe lời các đàn anh, đàn chị rồi từ bỏ việc khởi nghiệp.
- Daeun đã xem phản ứng của khách trước khi mở tiệm. ✓
- Tiệm của Daeun đã hoạt động được một năm rồi.
- Daeun quyết định mua nhiều nguyên liệu hơn trước.
✏️ Tiệm văn phòng phẩm đã trụ lại như thế nào
재원 씨는 초등학교 앞에서 이십 년째 작은 문구점을 하고 있어요.
Jaewon đã mở một tiệm văn phòng phẩm nhỏ trước cổng trường tiểu học được hai mươi năm.
몇 년 전부터 아이들이 줄고 인터넷으로 학용품을 사는 집이 늘면서 매출이 크게 떨어졌어요.
Từ vài năm trước, trẻ em ít đi và số gia đình mua đồ dùng học tập trên mạng tăng lên nên doanh thu giảm mạnh.
주변에서는 값을 내려 보라고 했지만, 재원 씨는 고개를 저었어요.
Những người xung quanh khuyên anh thử giảm giá, nhưng Jaewon lắc đầu.
지금 값을 조금 내린댔자 큰 인터넷 쇼핑몰과 경쟁하기는 어렵다고 생각했기 때문이에요.
Vì anh nghĩ rằng bây giờ có giảm giá một chút thì cũng khó mà cạnh tranh với các trang mua sắm trực tuyến lớn.
그 대신 재원 씨는 인터넷에서는 할 수 없는 일을 찾기 시작했어요.
Thay vào đó, Jaewon bắt đầu tìm những việc mà trên mạng không làm được.
준비물을 깜빡한 아이들에게 필요한 물건을 빌려주고, 방학에는 무료 만들기 교실을 열었어요.
Anh cho những đứa trẻ quên đồ dùng học tập mượn những thứ cần thiết, và vào kỳ nghỉ thì mở lớp làm đồ thủ công miễn phí.
그러자 아이들뿐 아니라 부모들도 이 문구점을 동네의 쉼터처럼 여기게 되었어요.
Thế là không chỉ trẻ em mà cả phụ huynh cũng xem tiệm văn phòng phẩm này như chốn nghỉ chân của khu phố.
재원 씨는 작은 가게가 살아남으려면 싸게 파는 것보다 믿을 수 있는 이웃이 되어야 한대요.
Jaewon nói rằng muốn tồn tại, một cửa tiệm nhỏ phải trở thành người hàng xóm đáng tin cậy hơn là bán rẻ.
Vì sao doanh thu của tiệm văn phòng phẩm giảm?
- Vì trường học chuyển sang khu khác.
- Vì giá đồ trong tiệm tăng nhiều.
- Vì Jaewon thường xuyên đóng cửa tiệm.
- Vì số gia đình mua đồ dùng học tập trên mạng tăng lên. ✓
Vì sao Jaewon không giảm giá?
- Vì anh cho rằng giảm giá cũng vô ích. ✓
- Vì giá đã đủ rẻ rồi.
- Vì phụ huynh phản đối việc giảm giá.
- Vì muốn bán đồ đắt hơn.
Ý chính của bài đọc này là gì?
- Cửa tiệm nhỏ phải bán rẻ nhất mới tồn tại được.
- Tiệm văn phòng phẩm phải bắt đầu bán hàng trên mạng.
- Trẻ em phải tự chuẩn bị đồ dùng học tập.
- Cửa tiệm nhỏ phải trở thành người hàng xóm đáng tin cậy. ✓
💍 Chiếc nhẫn bạc mất bốn tiếng
지난 토요일에 저는 친구와 함께 은반지를 직접 만드는 공방 수업에 참여했어요.
Thứ bảy tuần trước, tôi cùng một người bạn tham gia lớp học ở xưởng tự tay làm nhẫn bạc.
은으로 된 가는 막대를 불에 달구고 망치로 두드려 둥글게 만드는 과정이었어요.
Quy trình là nung nóng một thanh bạc mảnh trên lửa rồi dùng búa gõ cho tròn.
공방 선생님은 초보자도 두 시간이면 완성한댔는데, 저는 네 시간이 넘게 걸렸어요.
Thầy ở xưởng nói người mới cũng làm xong trong hai tiếng, nhưng tôi mất hơn bốn tiếng.
반지 크기를 맞추다가 두 번이나 너무 작게 만들어서 처음부터 다시 해야 했거든요.
Bởi vì khi chỉnh cỡ nhẫn, tôi đã hai lần làm quá nhỏ nên phải làm lại từ đầu.
옆자리 친구는 벌써 다 끝냈지만 제가 완성할 때까지 옆에서 기다려 주었어요.
Người bạn ngồi bên cạnh đã làm xong từ lâu nhưng vẫn ngồi chờ đến khi tôi hoàn thành.
선생님은 제 반지에 남은 망치 자국을 보시더니 이것도 손으로 만든 반지의 멋이라고 하셨어요.
Thầy nhìn những vết búa còn lại trên nhẫn của tôi rồi nói đó cũng là nét đẹp của nhẫn làm bằng tay.
완성된 반지는 조금 투박하지만, 세상에 하나뿐인 반지라서 볼 때마다 뿌듯해요.
Chiếc nhẫn làm xong hơi thô, nhưng vì là chiếc duy nhất trên đời nên mỗi lần nhìn tôi lại thấy tự hào.
이 경험 후로 저는 손으로 만든 물건이 왜 비싼지 조금은 이해하게 되었어요.
Sau trải nghiệm này, tôi phần nào hiểu được vì sao đồ làm bằng tay lại đắt.
Vì sao người này mất nhiều thời gian để làm nhẫn?
- Vì không hiểu lời giải thích của thầy.
- Vì đã hai lần làm nhẫn quá nhỏ. ✓
- Vì thanh bạc bị chảy trong lửa.
- Vì đã làm nhẫn thay cho bạn.
Thầy đã nói gì về chiếc nhẫn?
- Nói hãy chỉnh lại cỡ nhẫn từ đầu.
- Nói phải làm nhẵn các vết búa.
- Nói vết búa cũng là nét đẹp của nhẫn làm bằng tay. ✓
- Nói nhất định phải xong trong hai tiếng.
Nội dung nào đúng với bài đọc?
- Người bạn hoàn thành nhẫn trước người này. ✓
- Người này hoàn thành nhẫn trong hai tiếng.
- Người này đi học ở xưởng một mình.
- Chiếc nhẫn làm xong nhẵn mịn và không tì vết.
☂️ Sạp sửa ô của ông
저희 할아버지는 사십 년 동안 시장 입구에서 우산을 고치는 일을 하셨어요.
Ông tôi đã làm nghề sửa ô ở lối vào chợ suốt bốn mươi năm.
요즘은 우산이 싸서 고장 나면 버리고 새로 사는 사람이 많아요.
Ngày nay ô rẻ nên nhiều người hễ hỏng là vứt đi và mua cái mới.
그래도 할아버지는 살이 하나 부러진 우산도 절대 대충 고치지 않으셨어요.
Dù vậy, ngay cả chiếc ô chỉ gãy một nan, ông cũng không bao giờ sửa qua loa.
우산 하나 고치는 일에 무슨 큰 의미가 있을까마는, 할아버지께는 모든 우산이 소중했어요.
Sửa một chiếc ô thì có ý nghĩa gì lớn lao đâu, nhưng với ông, chiếc ô nào cũng quý giá.
할아버지는 손님마다 그 우산에 얽힌 사연을 듣고 기억해 두셨어요.
Ông lắng nghe câu chuyện gắn với chiếc ô của từng vị khách và ghi nhớ lại.
돌아가신 어머니가 남긴 우산이라며 울면서 찾아온 손님도 있었대요.
Nghe nói còn có vị khách vừa khóc vừa đến, nói rằng đó là chiếc ô người mẹ đã mất để lại.
할아버지가 은퇴하신 뒤로는 제가 할아버지께 배운 대로 가족들의 우산을 직접 고쳐 써요.
Từ khi ông nghỉ hưu, tôi tự sửa ô cho gia đình theo cách ông đã dạy.
우산을 고칠 때마다 물건을 고치는 일이 결국 사람의 마음을 돌보는 일이라는 것을 느껴요.
Mỗi lần sửa ô, tôi lại cảm nhận rằng sửa đồ vật rốt cuộc cũng là chăm sóc tấm lòng con người.
Ông đã làm công việc gì?
- Bán ô mới trong chợ.
- Sửa ô ở lối vào chợ. ✓
- Làm việc lâu năm ở nhà máy sản xuất ô.
- Sửa giày ở lối vào chợ.
Lý do phù hợp khiến ông không bao giờ sửa ô qua loa là gì?
- Vì muốn lấy nhiều tiền sửa.
- Vì khách hay phàn nàn.
- Vì ông coi chiếc ô nào cũng quý giá. ✓
- Vì ô mới quá đắt.
Điều người kể chuyện muốn nói nhất là gì?
- Ô hỏng thì mua cái mới thì hơn.
- Đồ cũ thì nên vứt hết đi.
- Có thể kiếm nhiều tiền nhờ sửa ô.
- Sửa đồ vật là chăm sóc tấm lòng con người. ✓