🇰🇷 Hanguru — Học tiếng Hàn

hanguru.app

← Quay lại ứng dụng ← Xem tất cả bài học

Đọc hiểu tiếng Hàn — Nông thôn

20 bài đọc trình độ TOPIK II thuộc chủ đề “Nông thôn”, mỗi bài có bản dịch từng câu và câu hỏi đọc hiểu.

🌱 Trồng quá sớm

지훈 씨 부부는 작년 봄에 도시 생활을 정리하고 강원도의 한 산골 마을로 귀농했어요.
Mùa xuân năm ngoái, vợ chồng Jihun từ bỏ cuộc sống thành phố, về một ngôi làng miền núi ở tỉnh Gangwon để làm nông.
인터넷 영상으로 농사를 공부한 두 사람은 사월 초에 고추 모종을 한꺼번에 밭에 심었어요.
Hai người học làm nông qua video trên mạng, đầu tháng Tư đã trồng hết một lượt cây ớt giống ra ruộng.
그 모습을 본 이웃 할아버지는 “산골에서 사월에 모종을 다 심는대서야 서리를 피할 수 있겠나.” 하며 혀를 차셨어요.
Thấy vậy, ông cụ hàng xóm tặc lưỡi: “Trên núi mà tháng Tư đã trồng hết cây giống thì làm sao tránh được sương giá.”
부부는 날씨가 이미 따뜻하다며 그 말을 크게 신경 쓰지 않았어요.
Hai vợ chồng bảo trời đã ấm rồi nên không mấy để tâm đến lời đó.
그런데 일주일 뒤 새벽 기온이 갑자기 영하로 떨어지면서 모종 절반이 얼어 버렸어요.
Nhưng một tuần sau, nhiệt độ lúc rạng sáng đột ngột xuống dưới không độ, khiến một nửa số cây giống bị chết cóng.
산골은 평지보다 봄이 늦고 일교차도 커서 심는 시기를 따로 판단해야 한다는 것을 그제야 알았죠.
Đến lúc đó họ mới biết rằng ở vùng núi mùa xuân đến muộn hơn đồng bằng và chênh lệch nhiệt độ ngày đêm cũng lớn, nên phải tính thời điểm trồng riêng.
남은 모종은 할아버지의 조언대로 비닐로 덮어 두었고, 오월 중순에 새로 심은 고추는 잘 자랐어요.
Theo lời khuyên của ông cụ, họ phủ ni lông lên số cây giống còn lại, và ớt trồng lại vào giữa tháng Năm đã lớn tốt.
이제 지훈 씨는 영상보다 마을 어른들의 경험을 먼저 묻는 습관이 생겼어요.
Giờ đây Jihun đã có thói quen hỏi kinh nghiệm của các bậc cao niên trong làng trước khi xem video.
Vì sao ông cụ hàng xóm tặc lưỡi?
  • Vì trồng cây giống quá sớm. ✓
  • Vì trồng cải thảo thay cho ớt.
  • Vì không tin video trên mạng.
  • Vì tưới quá nhiều nước cho ruộng.
Nguyên nhân phù hợp khiến một nửa số cây giống bị chết cóng là gì?
  • Hàng xóm chọn nhầm cây giống cho họ.
  • Đến giữa tháng Năm trời vẫn không mưa.
  • Họ không hiểu rõ thời tiết mùa xuân ở vùng núi. ✓
  • Họ trồng cây giống quá sâu.
Nội dung nào đúng với bài đọc?
  • Hai vợ chồng đã làm nông lâu năm trước khi về quê.
  • Lúc đầu hai vợ chồng đã bỏ ngoài tai lời ông cụ. ✓
  • Ớt trồng lại cũng chết hết vì sương giá.
  • Giờ Jihun chỉ xem video để làm nông.

🌊 Ngày những con thuyền ở lại bến

남해안의 작은 어촌에서 삼십 년째 고기를 잡는 정호 씨는 매일 새벽 바다로 나가요.
Jeongho, người đã đánh cá ba mươi năm ở một làng chài nhỏ ven biển phía nam, ngày nào cũng ra khơi từ lúc rạng sáng.
그날도 하늘은 맑고 바람도 잔잔해서 다른 배들은 하나둘 출항 준비를 하고 있었어요.
Hôm đó trời cũng trong và gió cũng lặng, nên các thuyền khác lần lượt chuẩn bị ra khơi.
하지만 정호 씨는 습관대로 기상 특보를 확인하다가 오후에 풍랑 경보가 내려질 수 있다는 소식을 봤어요.
Nhưng khi kiểm tra bản tin thời tiết đặc biệt theo thói quen, Jeongho thấy tin buổi chiều có thể sẽ phát cảnh báo sóng lớn.
그는 항구를 돌며 동료들에게 오늘은 나가지 말자고 설득했고, 대부분이 배를 묶어 두었어요.
Ông đi khắp bến cảng thuyết phục các bạn nghề hôm nay đừng ra khơi, và phần lớn đã buộc thuyền lại.
점심 무렵부터 바람이 거세지더니 오후에는 파도가 방파제를 넘을 만큼 높아졌어요.
Gần trưa gió bắt đầu mạnh lên, đến chiều sóng cao đến mức tràn qua đê chắn sóng.
먼바다로 나갔던 배 한 척은 해경의 도움을 받고서야 겨우 돌아올 수 있었어요.
Một con thuyền đã ra khơi xa phải nhờ cảnh sát biển giúp mới vất vả quay về được.
선장들은 “정호 씨가 미리 말해 줬기에 망정이지 다 같이 나갔으면 큰일 날 뻔했어요.” 하며 고마워했어요.
Các thuyền trưởng cảm ơn ông: “May mà anh Jeongho báo trước, chứ cả bọn cùng ra khơi thì suýt nữa đã có chuyện lớn.”
그날 이후 마을에서는 출항 전에 서로 기상 정보를 나누는 것이 규칙처럼 자리 잡았어요.
Từ hôm đó, việc chia sẻ thông tin thời tiết với nhau trước khi ra khơi đã trở thành gần như một quy tắc trong làng.
Vì sao Jeongho bảo các bạn nghề đừng ra khơi?
  • Vì phải sửa thuyền trước.
  • Vì gió đã mạnh từ sáng sớm.
  • Vì cảnh sát biển cấm ra khơi.
  • Vì dự báo sẽ có cảnh báo sóng lớn. ✓
Lý do phù hợp khiến các thuyền trưởng cảm ơn Jeongho là gì?
  • Nhờ ông mà họ đã không ra vùng biển nguy hiểm. ✓
  • Ông đã cứu một con thuyền ngoài khơi xa.
  • Ông chia cá mình đánh được cho mọi người.
  • Ông đã xây lại đê chắn sóng bị sập.
Nội dung nào đúng với bài đọc?
  • Tất cả thuyền trong làng đều ra khơi.
  • Jeongho vừa mới bắt đầu nghề đánh cá.
  • Làng vẫn chưa có quy tắc chia sẻ thông tin.
  • Buổi sáng thời tiết trông có vẻ đẹp. ✓

🚌 Khi xe buýt về làng thưa đi

수빈 씨의 할아버지가 사시는 충청도 마을에는 읍내로 나가는 버스가 하루에 세 번밖에 없어요.
Ở ngôi làng thuộc vùng Chungcheong, nơi ông của Subin sống, mỗi ngày chỉ có ba chuyến xe buýt ra thị trấn.
지난 주말에 찾아갔을 때 할아버지는 “다음 달부터는 버스가 하루 두 번만 다닌다더군.” 하며 한숨을 쉬셨어요.
Khi cô về thăm vào cuối tuần trước, ông thở dài: “Nghe nói từ tháng sau xe buýt chỉ chạy hai chuyến một ngày thôi.”
승객이 점점 줄어서 버스 회사도 노선을 유지하기가 어려워졌기 때문이에요.
Đó là vì hành khách ngày càng ít đi nên công ty xe buýt cũng khó duy trì tuyến đường.
할아버지처럼 운전을 하지 않는 어르신들에게 버스는 병원과 시장에 가는 유일한 수단이에요.
Với những người cao tuổi không lái xe như ông cô, xe buýt là phương tiện duy nhất để đến bệnh viện và chợ.
다행히 군에서는 버스가 줄어드는 마을을 위해 전화로 부르면 오는 마을 택시를 운영하기로 했어요.
May mắn là huyện đã quyết định vận hành xe taxi làng, gọi điện là đến, dành cho những ngôi làng bị giảm chuyến xe buýt.
요금은 버스비 정도라서 할아버지도 부담 없이 이용할 수 있어요.
Giá cước chỉ ngang tiền xe buýt nên ông cũng có thể đi mà không thấy tốn kém.
수빈 씨는 할아버지 휴대폰에 택시 번호를 단축 번호로 저장해 드리고 부르는 방법도 함께 여러 번 연습했어요.
Subin lưu số taxi vào phím gọi nhanh trên điện thoại của ông và cùng ông tập gọi xe nhiều lần.
그래도 정류장에서 이웃들과 나누던 이야기가 줄어들 것 같아 할아버지는 조금 서운해하셨어요.
Dù vậy, ông vẫn hơi buồn vì nghĩ rằng những câu chuyện trò cùng hàng xóm ở trạm xe buýt sẽ ít đi.
Từ tháng sau điều gì sẽ thay đổi?
  • Giá vé xe buýt tăng gấp đôi.
  • Xe buýt chỉ chạy hai chuyến một ngày. ✓
  • Xe taxi làng ngừng hoạt động.
  • Xe buýt chạy vào tận trước bệnh viện.
Vì sao ông lại buồn?
  • Ông nghĩ giá taxi sẽ quá đắt.
  • Cháu gái không hay về thăm.
  • Ông nghĩ cơ hội trò chuyện với hàng xóm sẽ ít đi. ✓
  • Ông không muốn học cách dùng điện thoại.
Nội dung nào đúng với bài đọc?
  • Hành khách giảm nên khó duy trì tuyến đường. ✓
  • Ông tự lái xe ra thị trấn.
  • Taxi làng đắt hơn xe buýt rất nhiều.
  • Subin sống cùng ông.

🏫 Cuộc sống mới của ngôi trường lẻ cũ

은서 씨가 다녔던 바닷가 마을의 분교는 학생이 한 명도 남지 않아 십 년 전에 문을 닫았어요.
Ngôi trường lẻ ở làng ven biển nơi Eunseo từng học đã đóng cửa từ mười năm trước vì không còn một học sinh nào.
그 후 운동장에는 풀이 무성해지고 교실 창문도 하나둘 깨져서 마을 사람들은 늘 안타까워했어요.
Sau đó, sân trường cỏ mọc um tùm, cửa sổ lớp học cũng lần lượt vỡ, khiến dân làng lúc nào cũng thấy tiếc nuối.
이번 추석에 고향에 내려가니 이장님이 “그 분교가 내년에 마을 도서관으로 바뀐다더군요.” 하고 알려 주셨어요.
Dịp Chuseok năm nay về quê, trưởng làng cho cô biết: “Nghe nói năm sau ngôi trường lẻ ấy sẽ được đổi thành thư viện của làng đấy.”
군청과 마을 주민들이 비용을 함께 나누어 낡은 건물을 고치기로 했다는 거예요.
Nghe đâu ủy ban huyện và người dân trong làng đã quyết định cùng chia chi phí để sửa lại tòa nhà cũ.
교실 한 칸은 책 읽는 공간으로, 다른 한 칸은 어르신들이 한글과 스마트폰을 배우는 교실로 쓴대요.
Nghe nói một phòng học sẽ làm không gian đọc sách, phòng còn lại làm lớp học để người cao tuổi học chữ Hangul và cách dùng điện thoại thông minh.
방학 때 도시에서 내려오는 손주들도 이곳에서 책을 빌려 볼 수 있을 거예요.
Những đứa cháu từ thành phố về chơi vào kỳ nghỉ cũng sẽ có thể mượn sách đọc ở đây.
은서 씨는 어릴 때 그림을 그리던 교실에 다시 불이 켜진다고 생각하니 가슴이 벅찼어요.
Nghĩ đến việc lớp học nơi mình từng vẽ tranh hồi nhỏ sẽ lại sáng đèn, Eunseo thấy lòng dâng trào xúc động.
그래서 서울로 돌아가자마자 집에 있던 동화책들을 상자에 담아 마을로 보냈어요.
Vì thế, vừa trở về Seoul, cô đã cho những cuốn truyện thiếu nhi ở nhà vào thùng và gửi về làng.
Vì sao ngôi trường lẻ đóng cửa?
  • Vì tòa nhà đã quá cũ.
  • Vì không có học sinh theo học. ✓
  • Vì giáo viên đã lên thành phố.
  • Vì sẽ xây thư viện mới.
Lý do phù hợp khiến Eunseo gửi truyện thiếu nhi về làng là gì?
  • Trưởng làng nhờ cô gửi sách.
  • Nhà chật nên cô phải bỏ bớt sách.
  • Cô muốn giúp đỡ thư viện mới. ✓
  • Các cháu của cô sẽ học ở ngôi trường lẻ đó.
Nội dung nào đúng với bài đọc?
  • Ủy ban huyện chi trả toàn bộ chi phí sửa tòa nhà.
  • Thư viện đã mở cửa vào dịp Chuseok năm nay.
  • Eunseo hiện đang sống ở làng ven biển.
  • Cũng sẽ có không gian học tập dành cho người cao tuổi. ✓

🤿 Người học việc mới nhất của các hải nữ

제주도에 사는 친구 태오가 오랜만에 전화해서 사촌 누나 이야기를 들려줬어요.
Người bạn Taeo sống ở đảo Jeju lâu lắm mới gọi điện cho tôi và kể chuyện về chị họ của cậu ấy.
서울에서 회사에 다니던 누나가 일을 그만두고 고향 바다에서 해녀가 되겠다고 했다는 거예요.
Nghe nói người chị từng làm ở một công ty tại Seoul đã nghỉ việc và bảo sẽ trở thành hải nữ ở vùng biển quê nhà.
태오는 “요즘은 해녀 학교에서 물질을 배우는 젊은 사람이 조금씩 늘어난다더라고.” 하고 말했어요.
Taeo nói: “Nghe bảo dạo này người trẻ học lặn ở trường hải nữ đang tăng dần đấy.”
해녀는 산소통 없이 숨을 참고 바닷속에 들어가 전복이나 소라 같은 해산물을 따는 사람이에요.
Hải nữ là những người không dùng bình dưỡng khí mà nín thở lặn xuống biển để bắt hải sản như bào ngư hay ốc xà cừ.
하지만 물질은 체력뿐 아니라 바다를 읽는 오랜 경험이 필요해서 쉽게 배울 수 있는 일이 아니에요.
Nhưng lặn biển không chỉ cần thể lực mà còn cần kinh nghiệm đọc biển lâu năm, nên không phải việc dễ học.
그래서 누나는 매일 아침 마을의 나이 많은 해녀들을 따라 얕은 바다에서부터 연습하고 있대요.
Vì vậy, nghe nói mỗi sáng chị đều theo các hải nữ lớn tuổi trong làng để luyện tập, bắt đầu từ vùng nước nông.
어른 해녀들은 처음에는 걱정했지만 지금은 자기들의 기술을 이어 갈 사람이 생겼다며 반가워한대요.
Các hải nữ lớn tuổi lúc đầu lo lắng, nhưng nghe nói giờ họ rất vui vì đã có người nối nghiệp kỹ năng của mình.
전화를 끊고 나서 저는 용기 있는 선택을 한 누나를 꼭 한번 만나 보고 싶어졌어요.
Cúp máy xong, tôi rất muốn được gặp người chị đã có lựa chọn dũng cảm ấy một lần.
Chị họ của Taeo đã đưa ra quyết định gì?
  • Quyết định nghỉ việc để trở thành hải nữ. ✓
  • Quyết định mở trường hải nữ ở Seoul.
  • Quyết định mở nhà hàng ở đảo Jeju.
  • Quyết định bán hải sản lên thành phố.
Vì sao lặn biển không dễ học?
  • Cách dùng bình dưỡng khí rất khó.
  • Trường hải nữ không nhận người trẻ.
  • Cần cả thể lực lẫn kinh nghiệm về biển. ✓
  • Không thể luyện tập ở vùng nước nông.
Nội dung nào đúng với bài đọc?
  • Chị họ được gia đình ủng hộ ngay từ đầu.
  • Các hải nữ lớn tuổi đang đón chào chị họ. ✓
  • Taeo đang cùng chị họ học lặn.
  • Người kể chuyện đã gặp chị họ nhiều lần.

🧺 Ngày phiên chợ ở thị trấn của bà

하린 씨의 외할머니가 사시는 전라도 읍내에는 닷새마다 한 번씩 오일장이 열려요.
Ở thị trấn thuộc vùng Jeolla nơi bà ngoại của Harin sống, cứ năm ngày lại có một phiên chợ.
장날이 되면 근처 마을 사람들이 직접 기른 채소와 곡식을 들고 모여들어 거리가 사람들로 가득해요.
Đến ngày phiên chợ, người dân các làng lân cận mang rau và ngũ cốc tự trồng đến tụ họp, đường phố đông nghịt người.
지난 장날 아침, 할머니는 옆집 아주머니를 만나고 온 하린 씨에게 “뻥튀기 아저씨도 오늘 온다던?” 하고 물으셨어요.
Sáng phiên chợ trước, bà hỏi Harin vừa gặp cô hàng xóm về: “Cô ấy có bảo hôm nay chú nổ bỏng gạo cũng đến không?”
뻥튀기 아저씨는 사람들이 가져온 쌀을 커다란 기계에 넣고 튀겨 주는데, 그 소리가 장터에서 가장 요란해요.
Chú nổ bỏng gạo cho gạo mọi người mang đến vào một cái máy to để nổ, và tiếng nổ ấy ồn nhất cả phiên chợ.
아주머니 말로는 아저씨가 허리를 다쳐서 한동안 쉬었지만 이번 장부터 다시 나온다고 했어요.
Theo lời cô hàng xóm, chú bị đau lưng nên nghỉ một thời gian, nhưng từ phiên chợ này sẽ quay lại.
그 말을 들은 할머니는 쌀 한 봉지를 챙겨 들고 누구보다 서둘러 장으로 향하셨어요.
Nghe vậy, bà xách một túi gạo và vội vã ra chợ hơn bất kỳ ai.
할머니에게 오일장은 물건을 사는 곳이기 전에 오랜 이웃들의 안부를 확인하는 자리예요.
Với bà, phiên chợ trước khi là nơi mua sắm thì là nơi hỏi thăm tình hình những người hàng xóm lâu năm.
하린 씨는 뻥튀기를 나눠 먹으며 웃는 할머니와 이웃들을 보고 장날이 왜 기다려지는지 알 것 같았어요.
Nhìn bà và những người hàng xóm vừa chia nhau bỏng gạo vừa cười, Harin dường như hiểu vì sao mọi người mong ngóng ngày phiên chợ.
Bà đã hỏi Harin điều gì?
  • Hỏi hôm nay có đúng là ngày phiên chợ không.
  • Hỏi giá gạo đã tăng bao nhiêu.
  • Hỏi cô hàng xóm có bị ốm không.
  • Hỏi chú nổ bỏng gạo có đến chợ không. ✓
Vì sao bà vội vã ra chợ?
  • Nghe nói chú nghỉ một thời gian giờ đã quay lại. ✓
  • Nghe nói chợ chỉ họp buổi sáng.
  • Bà phải bán gạo để lấy tiền.
  • Bà phải đến bệnh viện chữa lưng.
Qua bài đọc này có thể biết được điều gì?
  • Phiên chợ một tháng chỉ họp một lần.
  • Chú nổ bỏng gạo đã nghỉ bán.
  • Harin tự tay vận hành máy nổ bỏng gạo.
  • Với bà, ngày phiên chợ là ngày gặp gỡ hàng xóm. ✓

🏚️ Làm gì với những ngôi nhà bỏ trống

경상북도의 한 산골 마을에는 주인이 떠나고 오랫동안 비어 있는 집이 열 채가 넘어요.
Ở một ngôi làng miền núi thuộc tỉnh Gyeongsang Bắc, có hơn mười ngôi nhà bỏ trống đã lâu sau khi chủ rời đi.
빈집은 금방 낡고 잡초가 자라서 마을 전체가 쓸쓸해 보이는 원인이 되기도 해요.
Nhà bỏ trống nhanh chóng xuống cấp, cỏ dại mọc um tùm, đôi khi khiến cả làng trông hiu quạnh.
그래서 올가을 마을 회의에서 젊은 이장 도윤 씨가 빈집을 살릴 방법을 함께 찾아보자고 제안했어요.
Vì vậy, tại cuộc họp làng mùa thu năm nay, trưởng thôn trẻ Doyun đề nghị mọi người cùng tìm cách hồi sinh những ngôi nhà bỏ trống.
그는 “민박으로 고친다든지 청년들에게 싸게 빌려준다든지 하나를 정해 봐요.” 하고 말했어요.
Anh nói: “Sửa thành nhà nghỉ homestay hay cho thanh niên thuê giá rẻ, mình chọn lấy một cách đi.”
어르신들은 낯선 손님이 드나드는 것보다 이웃이 되어 줄 사람이 오는 편이 낫다고 입을 모았어요.
Các cụ đồng thanh nói rằng có người đến làm hàng xóm thì tốt hơn là khách lạ ra ra vào vào.
결국 마을은 빈집 두 채를 먼저 수리해서 농사를 배우려는 청년들에게 싼 값에 빌려주기로 했어요.
Cuối cùng, làng quyết định sửa trước hai ngôi nhà bỏ trống rồi cho những thanh niên muốn học làm nông thuê với giá rẻ.
집주인들도 집이 무너지는 것보다 누군가 살면서 돌보는 편이 좋다며 흔쾌히 동의했어요.
Chủ nhà cũng vui vẻ đồng ý, nói rằng có người ở và chăm sóc thì tốt hơn là để nhà sập.
내년 봄에 첫 입주자가 들어오면 마을 어른들이 직접 농사를 가르쳐 줄 계획이에요.
Mùa xuân năm sau, khi những người đầu tiên chuyển đến, các bậc cao niên trong làng dự định sẽ trực tiếp dạy họ làm nông.
Cuối cùng làng đã quyết định điều gì?
  • Quyết định biến tất cả nhà bỏ trống thành nhà nghỉ homestay.
  • Quyết định cho thanh niên thuê nhà bỏ trống với giá rẻ. ✓
  • Quyết định phá bỏ cùng lúc mười ngôi nhà bỏ trống.
  • Quyết định bán nhà bỏ trống cho khách du lịch.
Vì sao các cụ muốn cách khác thay vì nhà nghỉ homestay?
  • Không có tiền để kinh doanh nhà nghỉ.
  • Thanh niên không thích nhà nghỉ.
  • Muốn có người cùng sống làm hàng xóm. ✓
  • Chủ nhà phản đối nhà nghỉ.
Điều nào đúng với nội dung bài đọc?
  • Chủ nhà tán thành kế hoạch của làng. ✓
  • Doyun là người lớn tuổi nhất trong làng.
  • Những người đầu tiên đã chuyển đến vào mùa xuân năm nay.
  • Nhà bỏ trống đều sạch sẽ như nhà mới.

🍎 Người con trai đã hứa sẽ giúp

충청북도의 한 사과 농장에서는 해마다 시월이 되면 사과를 딸 일손이 모자라 애를 먹어요.
Ở một trang trại táo thuộc tỉnh Chungcheong Bắc, năm nào cứ đến tháng mười là lại vất vả vì thiếu người hái táo.
농장을 운영하는 부부는 올해도 서울에 사는 아들 재민 씨에게 주말에 좀 도와 달라고 부탁했어요.
Năm nay, cặp vợ chồng chủ trang trại lại nhờ con trai Jaemin đang sống ở Seoul cuối tuần về giúp một tay.
재민 씨는 꼭 가겠다고 약속했지만 토요일 오후가 되도록 아무 연락이 없었어요.
Jaemin hứa nhất định sẽ về, nhưng đến chiều thứ bảy vẫn không thấy liên lạc gì.
참다못한 어머니는 전화를 걸어 “아침 일찍 내려온다며 아직도 서울에서 뭐 하니?” 하고 물으셨어요.
Không chờ nổi nữa, mẹ gọi điện hỏi: “Bảo sáng sớm về cơ mà, giờ vẫn còn ở Seoul làm gì thế?”
알고 보니 재민 씨는 갑자기 회사 일이 생겨서 출발하지 못하고 있었어요.
Hóa ra Jaemin đột nhiên có việc ở công ty nên chưa thể xuất phát.
미안해진 그는 다음 날 새벽 첫차를 타고 내려오면서 회사 동료 두 명까지 데려왔어요.
Thấy áy náy, sáng sớm hôm sau anh bắt chuyến xe đầu tiên về, còn dẫn theo cả hai đồng nghiệp.
동료들은 사과 따기가 생각보다 힘들다면서도 갓 딴 사과의 맛에 감탄했어요.
Các đồng nghiệp nói hái táo vất vả hơn họ tưởng, nhưng vẫn trầm trồ trước hương vị của những quả táo vừa hái.
그날 저녁 부모님은 일손이 두 배가 되었다며 아들의 늦은 도착을 웃으며 용서해 주셨어요.
Tối hôm đó, bố mẹ cười nói nhân lực đã tăng gấp đôi và tha thứ cho việc con trai đến muộn.
Vì sao mẹ gọi điện cho Jaemin?
  • Vì giá táo giảm mạnh.
  • Vì anh không đến đúng giờ đã hẹn. ✓
  • Để bảo anh dẫn đồng nghiệp theo.
  • Vì vụ thu hoạch bị dời sang tuần sau.
Vì sao Jaemin không thể xuất phát vào thứ bảy?
  • Không mua được vé tàu.
  • Bị ốm nằm trên giường.
  • Đột nhiên có việc ở công ty. ✓
  • Đang chờ đồng nghiệp.
Điều nào đúng với nội dung bài đọc?
  • Cuối cùng Jaemin đã không đến trang trại.
  • Các đồng nghiệp nói hái táo dễ.
  • Năm nay là lần đầu trang trại này thiếu người làm.
  • Cuối cùng bố mẹ đã rộng lượng với con trai. ✓

⛴️ Những bưu kiện chờ tàu

나연 씨는 전라남도의 작은 섬에 있는 초등학교로 발령을 받아 올봄부터 섬에서 살고 있어요.
Nayeon được phân công về một trường tiểu học trên hòn đảo nhỏ thuộc tỉnh Jeolla Nam và sống trên đảo từ mùa xuân năm nay.
섬과 육지를 잇는 배는 하루에 두 번 다니는데, 바람이 강한 날에는 그마저 끊겨요.
Tàu nối đảo với đất liền chạy hai chuyến mỗi ngày, mà những hôm gió to thì ngay cả chuyến đó cũng bị hủy.
요즘은 전국 어디든 다음 날이면 택배가 온다지만 이 섬에서는 사나흘씩 걸리는 일이 흔해요.
Người ta bảo bây giờ ở đâu trong nước thì hôm sau cũng nhận được bưu kiện, nhưng trên đảo này mất ba bốn ngày là chuyện thường.
게다가 섬까지 오는 배송비가 따로 붙어서 작은 물건 하나를 시키기도 망설여져요.
Hơn nữa, phí giao hàng ra đảo còn bị tính thêm nên ngay cả đặt một món đồ nhỏ cô cũng phải đắn đo.
처음에는 불편하다고 느꼈지만 나연 씨는 곧 섬 사람들의 방식에 익숙해졌어요.
Lúc đầu cô thấy bất tiện, nhưng Nayeon nhanh chóng quen với cách sống của người dân trên đảo.
이웃들은 육지에 나가는 사람이 있으면 필요한 물건을 적어 주고 한꺼번에 사 와 달라고 부탁해요.
Khi có ai ra đất liền, hàng xóm ghi lại những thứ cần mua và nhờ người đó mua về một lượt.
지난주에는 나연 씨도 육지에 다녀오면서 할머니들이 부탁한 감기약과 털실을 한 보따리 사 왔어요.
Tuần trước, Nayeon cũng ra đất liền và mua về cả một bọc thuốc cảm cùng len đan mà các bà nhờ.
느리지만 서로 돕는 섬 생활 속에서 나연 씨는 도시에서 잊고 지냈던 여유를 배우고 있어요.
Trong cuộc sống trên đảo chậm rãi nhưng biết giúp đỡ lẫn nhau, Nayeon đang học lại sự thong thả mà cô đã quên khi sống ở thành phố.
Vì sao khó nhận bưu kiện trên đảo?
  • Ít chuyến tàu, gió to thì còn bị hủy. ✓
  • Trên đảo hoàn toàn không có công ty giao hàng.
  • Người dân trên đảo không thích bưu kiện.
  • Nhà trường cấm nhận bưu kiện.
Lý do hàng xóm trên đảo nhờ người ra đất liền mua đồ là gì?
  • Trên đảo không thể tiêu tiền.
  • Họ nhận được tiền công từ người đó.
  • Bưu kiện chậm mà còn bị tính thêm phí giao hàng. ✓
  • Đồ ở đất liền đắt hơn trên đảo.
Ý chính của bài đọc là gì?
  • Trên đảo bưu kiện cũng đến vào hôm sau.
  • Cuộc sống trên đảo chậm nhưng giúp đỡ lẫn nhau và mang lại sự thong thả. ✓
  • Cuộc sống trên đảo bất tiện nên phải sớm rời đi.
  • Cần tăng thêm tàu ra đảo.

🌉 Chờ cây cầu

지난여름 장마 때 불어난 물에 마을 입구의 오래된 다리가 절반쯤 무너져 내렸어요.
Mùa mưa hè năm ngoái, nước dâng cao đã làm sập khoảng một nửa cây cầu cũ ở đầu làng.
그 후 주민들은 차가 다닐 수 없어서 산을 돌아가는 좁은 길로 한참을 둘러 다녀야 했어요.
Sau đó, vì xe không qua được nên người dân phải đi vòng rất xa theo con đường hẹp quanh núi.
몇 달이 지나도 공사 소식이 없자 마을 청년 현우 씨가 직접 군청에 찾아가 보기로 했어요.
Mấy tháng trôi qua vẫn không có tin thi công, chàng thanh niên trong làng Hyunwoo quyết định tự mình lên ủy ban huyện.
그가 돌아오자 노인회장 어르신이 “그래, 군청에서는 다리를 언제 고친답디까?” 하고 물으셨어요.
Khi anh trở về, cụ hội trưởng hội người cao tuổi hỏi: “Thế nào, ủy ban huyện bảo bao giờ sửa cầu?”
현우 씨는 예산이 확정되어 내년 봄에 새 다리를 짓기 시작한다는 답을 들었다고 전했어요.
Hyunwoo kể lại rằng anh được trả lời là ngân sách đã được duyệt và mùa xuân năm sau sẽ bắt đầu xây cầu mới.
또 새 다리는 예전보다 높고 튼튼하게 지어서 큰비에도 잠기지 않게 한대요.
Anh còn nói cầu mới sẽ được xây cao và chắc chắn hơn trước để dù mưa lớn cũng không bị ngập.
겨울 동안은 사람이 걸어서 건널 수 있는 임시 다리를 먼저 놓아 주기로 했다는 소식도 있었어요.
Cũng có tin rằng trong mùa đông, trước mắt sẽ bắc một cây cầu tạm để người dân đi bộ qua.
어르신들은 그제야 안심하며 수고한 현우 씨에게 따뜻한 국밥 한 그릇을 대접했어요.
Đến lúc đó các cụ mới yên tâm và mời Hyunwoo, người đã vất vả, một bát canh cơm nóng hổi.
Vì sao Hyunwoo lên ủy ban huyện?
  • Anh mới được nhận vào làm ở ủy ban huyện.
  • Anh muốn đề nghị mở rộng đường núi.
  • Cụ hội trưởng hội người cao tuổi không muốn lên ủy ban huyện.
  • Đã lâu không có tin thi công cầu. ✓
Vì sao cầu mới được xây cao hơn trước?
  • Để dù mưa lớn cũng không bị ngập. ✓
  • Tàu lớn phải đi qua dưới cầu.
  • Để cho khách du lịch ngắm cảnh.
  • Ngân sách còn dư nhiều hơn dự kiến.
Điều nào đúng với nội dung bài đọc?
  • Công trình cầu mới sẽ xong vào mùa đông năm nay.
  • Cây cầu sập hoàn toàn vì bão.
  • Người dân nói đường núi tiện hơn.
  • Mùa đông sẽ có cầu tạm để đi bộ qua. ✓

🥔 Ai sẽ tổ chức lễ hội khoai tây?

강원도의 한 고원 마을에서는 해마다 여름이 끝날 무렵 작은 감자 축제가 열려요.
Ở một ngôi làng trên cao nguyên thuộc tỉnh Gangwon, năm nào vào cuối hè cũng có một lễ hội khoai tây nhỏ.
하지만 축제를 이끌던 어르신들이 점점 나이가 들면서 올해는 축제를 쉬자는 이야기까지 나왔어요.
Nhưng vì các cụ vốn dẫn dắt lễ hội ngày càng có tuổi, năm nay thậm chí còn có ý kiến tạm nghỉ lễ hội.
그러자 이장님은 “젊은 사람들이 준비를 맡는대야 축제를 열지요.” 하고 조건을 내거셨어요.
Thế là trưởng thôn đặt điều kiện: “Phải là thanh niên nhận lo chuẩn bị thì mới tổ chức lễ hội.”
그 말을 들은 귀농 삼 년 차 보람 씨가 마을의 젊은 부부 네 쌍과 함께 준비 위원회를 만들었어요.
Nghe vậy, Boram, người đã về quê làm nông được ba năm, cùng bốn cặp vợ chồng trẻ trong làng lập ra ban chuẩn bị.
그들은 감자 캐기 체험에 더해 감자 요리 대회와 아이들을 위한 감자 도장 만들기를 새로 준비했어요.
Ngoài trải nghiệm đào khoai tây, họ còn chuẩn bị thêm cuộc thi nấu món khoai tây và hoạt động làm con dấu khoai tây cho trẻ em.
어르신들은 전통 방식으로 감자떡을 빚는 법을 가르치며 행사에 힘을 보태셨어요.
Các cụ góp sức cho sự kiện bằng cách dạy làm bánh gạo khoai tây theo cách truyền thống.
축제 날 이웃 마을은 물론 도시에서 온 가족들까지 찾아와 작년보다 훨씬 북적였어요.
Vào ngày lễ hội, không chỉ người làng bên mà cả các gia đình từ thành phố cũng đến, đông vui hơn năm ngoái rất nhiều.
이장님은 “이제 축제를 물려줄 사람이 생겼네요.” 하며 보람 씨의 손을 꼭 잡으셨어요.
Trưởng thôn nắm chặt tay Boram và nói: “Giờ đã có người để trao lại lễ hội rồi.”
Điều kiện trưởng thôn đưa ra là gì?
  • Đưa thật nhiều khách từ thành phố về.
  • Thanh niên đảm nhận việc chuẩn bị lễ hội. ✓
  • Tăng gấp đôi diện tích trồng khoai tây.
  • Các cụ tham gia cuộc thi nấu ăn.
Lý do lễ hội năm nay đông vui hơn năm ngoái là gì?
  • Lễ hội được kéo dài thành một tuần.
  • Lễ hội của làng bên bị hủy.
  • Có thêm hoạt động mới nên người kéo đến đông. ✓
  • Năm nay khoai tây rất rẻ.
Điều nào đúng với nội dung bài đọc?
  • Các cụ cũng giúp chuẩn bị lễ hội. ✓
  • Lễ hội năm nay cuối cùng đã không diễn ra.
  • Boram sinh ra ở làng này.
  • Lễ hội diễn ra vào đầu mùa xuân.

🦪 Chàng trai học nuôi hàu

경상남도의 한 바닷가 마을에 올봄 스물여덟 살 청년 동하 씨가 서울에서 이사를 왔어요.
Mùa xuân năm nay, chàng trai hai mươi tám tuổi Dongha đã chuyển từ Seoul về một làng ven biển thuộc tỉnh Gyeongsang Nam.
처음에 마을 사람들은 “굴 양식을 배운단 그 서울 청년 말이에요?” 하며 반신반의했어요.
Lúc đầu dân làng bán tín bán nghi: “Ý là cái cậu thanh niên Seoul bảo sẽ học nuôi hàu ấy hả?”
굴 양식은 새벽 찬 바다에서 무거운 줄을 끌어 올려야 하는 고된 일이라 오래 버티는 사람이 드물거든요.
Bởi nuôi hàu là việc cực nhọc, phải kéo những sợi dây nặng trịch lên từ biển lạnh lúc rạng sáng, nên hiếm người trụ được lâu.
동하 씨는 매일 새벽 네 시에 일어나 마을에서 가장 오래 굴을 키운 어르신의 배를 탔어요.
Dongha ngày nào cũng dậy lúc bốn giờ sáng và lên thuyền của cụ già nuôi hàu lâu năm nhất làng.
손이 트고 허리가 아파도 그는 모르는 것이 생기면 수첩에 적어 두었다가 저녁마다 다시 물어봤어요.
Dù tay nứt nẻ, lưng đau nhức, hễ có gì không hiểu là anh ghi vào sổ tay rồi tối nào cũng hỏi lại.
그런 모습을 본 어르신들은 하나둘 자신만의 요령을 알려 주기 시작했어요.
Thấy vậy, các cụ lần lượt bắt đầu chỉ cho anh những bí quyết riêng của mình.
반년이 지난 지금 동하 씨는 작은 양식장을 직접 맡아 첫 수확을 앞두고 있어요.
Nửa năm sau, giờ đây Dongha đã tự mình quản lý một bãi nuôi nhỏ và sắp có vụ thu hoạch đầu tiên.
마을 사람들은 이제 그를 서울 청년이 아니라 우리 마을 막내라고 부르며 아껴요.
Giờ đây dân làng không gọi anh là thanh niên Seoul nữa mà gọi là út của làng mình và rất quý mến anh.
Vì sao lúc đầu dân làng bán tín bán nghi?
  • Dongha sợ biển.
  • Nuôi hàu là việc khó trụ được lâu. ✓
  • Dongha định mua bãi nuôi hàu.
  • Trong làng không có bãi nuôi hàu nào.
Lý do các cụ chỉ bí quyết cho Dongha là gì?
  • Anh đã trả nhiều học phí.
  • Anh là cháu nội của một cụ.
  • Thấy anh chăm chỉ học hỏi. ✓
  • Ủy ban huyện nhờ họ đào tạo.
Điều nào đúng với nội dung bài đọc?
  • Dongha chỉ ra biển vào buổi chiều.
  • Dân làng đến giờ vẫn không tin anh.
  • Dongha lớn lên ở làng này.
  • Dongha sắp có vụ thu hoạch đầu tiên. ✓

🩺 Bác sĩ chọn vùng núi

전라북도의 깊은 산골 마을에는 오랫동안 의사가 없어서 주민들이 버스를 두 번이나 갈아타고 병원에 다녔어요.
Ở một ngôi làng sâu trong núi tỉnh Jeollabuk-do, từ lâu không có bác sĩ nên người dân phải đổi xe buýt tới hai lần mới đến được bệnh viện.
작은 보건진료소가 있긴 했지만 의사를 구한다는 공고를 내도 지원하는 사람이 없었어요.
Tuy có một trạm y tế nhỏ nhưng dù đăng thông báo tuyển bác sĩ cũng không có ai ứng tuyển.
주민들은 “이렇게 먼 산골까지 와서 일한달 의사가 어디 있겠어요?” 하며 반쯤 포기하고 있었어요.
Người dân đã gần như bỏ cuộc, nói rằng: “Lấy đâu ra bác sĩ chịu lên tận vùng núi xa xôi thế này để làm việc chứ?”
그런데 작년 겨울, 도시의 큰 병원에서 일하던 소희 씨가 이곳에 오겠다고 지원했어요.
Thế nhưng mùa đông năm ngoái, Sohee, người từng làm việc ở một bệnh viện lớn trong thành phố, đã nộp đơn xin đến đây.
소희 씨는 어릴 때 시골에 사시던 할머니가 제때 치료를 받지 못해 고생하신 기억이 있었대요.
Nghe nói hồi nhỏ Sohee từng chứng kiến bà mình sống ở quê phải chịu khổ vì không được chữa trị kịp thời.
지금은 진료소에서 환자를 보는 것뿐 아니라 걷기 힘든 어르신들 집에 직접 찾아가기도 해요.
Giờ đây cô không chỉ khám bệnh ở trạm y tế mà còn tự đến tận nhà những cụ già đi lại khó khăn.
요즘 어르신들은 진료가 끝나면 고맙다며 텃밭에서 기른 채소를 한 봉지씩 놓고 가세요.
Dạo này, khám xong, các cụ lại cảm ơn rồi để lại một túi rau trồng trong vườn nhà.
소희 씨는 도시보다 월급은 적지만 이곳에서 의사로서 가장 큰 보람을 느낀다고 말해요.
Sohee nói rằng dù lương thấp hơn ở thành phố, nhưng chính ở đây cô cảm thấy ý nghĩa lớn nhất của nghề bác sĩ.
Vì sao người dân đã gần như bỏ cuộc?
  • Dù tuyển bác sĩ nhưng không có ai ứng tuyển. ✓
  • Trạm y tế đã đóng cửa.
  • Tuyến xe buýt đến bệnh viện đã bị bỏ.
  • Chi phí chữa bệnh tăng quá cao.
Lý do khiến Sohee quyết định đến đây là gì?
  • Vì cô bị mất việc ở bệnh viện thành phố.
  • Vì lương ở đây cao hơn ở thành phố.
  • Vì ký ức về việc bà được chữa trị muộn. ✓
  • Vì cả gia đình cô đều sống ở làng này.
Điều nào đúng với nội dung bài?
  • Sohee từ chối nhận rau.
  • Sohee còn đến tận nhà bệnh nhân. ✓
  • Làng này đến giờ vẫn chưa có bác sĩ.
  • Sohee định quay về thành phố.

🌾 Bận đến mức không đi khám bệnh

가은 씨의 아버지는 경기도 시골에서 벼농사를 짓는데, 모내기 철이면 하루도 쉬지 않고 논에 나가세요.
Bố của Gaeun trồng lúa ở vùng quê tỉnh Gyeonggi-do, cứ đến mùa cấy là ông ra đồng không nghỉ một ngày nào.
올봄에는 아버지가 기침을 자주 하시고 식사도 잘 못 하셔서 가족들이 걱정이 많았어요.
Mùa xuân năm nay, bố hay ho và ăn uống không được, nên cả nhà rất lo lắng.
하지만 가은 씨가 몇 번이나 언제 병원에 가시겠느냐는데도 아버지는 모내기가 끝나면 가겠다는 말만 하셨어요.
Nhưng dù Gaeun đã hỏi mấy lần rằng khi nào bố đi bệnh viện, bố chỉ nói cấy xong sẽ đi.
결국 가은 씨는 주말에 직접 내려가서 이웃에게 아버지 대신 논일을 해 달라고 부탁해 두었어요.
Cuối cùng, cuối tuần Gaeun tự mình về quê và nhờ hàng xóm làm việc đồng áng thay bố.
그러고는 읍내 병원에 아버지를 모시고 가서 검사를 받으시게 했어요.
Sau đó, cô đưa bố đến bệnh viện ở thị trấn để làm xét nghiệm.
검사 결과 폐렴 초기라서 조금만 더 늦었으면 입원해야 했을 거라는 말을 들었어요.
Kết quả cho thấy bố bị viêm phổi giai đoạn đầu, và họ được biết nếu chậm thêm chút nữa thì có lẽ đã phải nhập viện.
약을 드시고 푹 쉰 아버지는 이 주일 만에 기운을 되찾고 다시 논으로 나가셨어요.
Uống thuốc và nghỉ ngơi đầy đủ, sau hai tuần bố đã lấy lại sức và lại ra đồng.
그 뒤로 아버지는 농사일이 바빠도 몸이 이상하면 먼저 병원에 가겠다고 약속하셨어요.
Từ đó, bố hứa rằng dù việc đồng áng bận rộn, hễ thấy trong người khác lạ là sẽ đi bệnh viện trước.
Vì sao bố không đi bệnh viện ngay?
  • Thị trấn không có bệnh viện.
  • Viện phí là gánh nặng.
  • Cơn ho đã khỏi hẳn.
  • Đang mùa cấy nên việc rất bận. ✓
Lý do khiến Gaeun nhờ hàng xóm làm việc đồng là gì?
  • Cô muốn bố yên tâm đi bệnh viện. ✓
  • Bố quyết định bỏ nghề nông.
  • Hàng xóm muốn mua thửa ruộng đó.
  • Gaeun muốn học làm ruộng.
Điều nào đúng với nội dung bài?
  • Sau khi xét nghiệm, bố đã nằm viện một tháng.
  • Gaeun làm nông cùng với bố.
  • Bố đến giờ vẫn từ chối đi bệnh viện.
  • Bố đã hồi phục mà không phải nhập viện. ✓

🌌 Những vị khách đến vì sao trời

유진 씨의 부모님은 충청남도의 한 시골 마을에서 작은 농가 민박을 운영하세요.
Bố mẹ của Yujin kinh doanh một nhà nghỉ nông thôn nhỏ ở một ngôi làng tại tỉnh Chungcheongnam-do.
지난여름 방학에는 유진 씨가 내려가서 도시에서 온 손님들을 맞는 일을 도왔어요.
Kỳ nghỉ hè năm ngoái, Yujin về quê và giúp đón tiếp những vị khách từ thành phố đến.
어느 날 저녁 한 가족이 체크인을 하다가 이 마을에서 밤하늘의 별을 잘 볼 수 있는지 물었어요.
Một buổi tối, có một gia đình vừa làm thủ tục nhận phòng vừa hỏi ở làng này có ngắm rõ sao trên bầu trời đêm không.
유진 씨는 마당에 계신 아버지께 달려가 “아빠, 손님들이 여기서 별을 볼 수 있느냐는데요.” 하고 전했어요.
Yujin chạy ra sân chỗ bố và nói lại: “Bố ơi, khách hỏi ở đây có ngắm sao được không ạ.”
아버지는 웃으면서 불빛이 적은 뒷산 밭둑에 가면 은하수까지 보인다고 알려 주셨어요.
Bố cười và bảo rằng nếu lên bờ ruộng trên ngọn đồi sau nhà, nơi ít ánh đèn, thì có thể nhìn thấy cả dải Ngân Hà.
그날 밤 아버지는 손전등과 돗자리를 챙겨 손님 가족을 직접 밭둑까지 안내하셨어요.
Tối hôm đó, bố mang theo đèn pin và chiếu trải, tự mình dẫn gia đình khách lên bờ ruộng.
도시에서만 자란 아이들은 쏟아질 듯한 별을 보고 소리를 지르며 한참 동안 자리를 떠나지 못했어요.
Những đứa trẻ chỉ lớn lên ở thành phố reo hò khi thấy bầu trời sao như sắp đổ xuống, và mãi không chịu rời đi.
그 후 부모님은 민박 소개에 별 보기 체험을 더했고, 요즘은 그것을 보러 오는 손님이 많아요.
Sau đó, bố mẹ đã thêm trải nghiệm ngắm sao vào phần giới thiệu nhà nghỉ, và dạo này có nhiều khách đến vì điều đó.
Gia đình khách muốn biết điều gì?
  • Có thể hái rau ngoài ruộng không.
  • Ở làng có nhìn rõ sao không. ✓
  • Giá phòng nhà nghỉ là bao nhiêu.
  • Đường lên ngọn đồi sau nhà ở đâu.
Vì sao từ bờ ruộng trên đồi sau nhà có thể nhìn rõ sao?
  • Vì đó là ngọn núi cao nhất làng.
  • Vì ở đó có lắp kính thiên văn.
  • Vì xung quanh ít ánh đèn. ✓
  • Vì mùa hè không có mây.
Điều nào đúng với nội dung bài?
  • Nhà nghỉ đã có thêm trải nghiệm ngắm sao. ✓
  • Yujin sống ở quê cùng bố mẹ.
  • Bọn trẻ ngắm sao xong liền quay về chỗ nghỉ.
  • Bố không trả lời câu hỏi của khách.

🔥 Không đốt lửa vào mùa xuân khô hanh

봄철 시골에서는 밭에 남은 마른 풀이나 쓰레기를 태우다가 산불이 나는 일이 종종 있어요.
Vào mùa xuân ở nông thôn, thỉnh thoảng lại xảy ra cháy rừng khi người ta đốt cỏ khô hay rác còn sót lại trên ruộng.
어느 건조한 오후, 주말이라 시골에 내려온 준서가 할아버지 대신 마른 고춧대를 태우겠다고 나섰어요.
Một buổi chiều hanh khô, Junseo, người về quê dịp cuối tuần, xung phong đốt những thân cây ớt khô thay ông nội.
할아버지가 불 끌 물은 준비했느냐고 물으셨지만 준서는 대답도 없이 라이터부터 꺼냈어요.
Ông hỏi cậu đã chuẩn bị nước để dập lửa chưa, nhưng Junseo chẳng trả lời mà rút ngay bật lửa ra.
그 순간 바람이 휙 불자 할아버지는 목소리를 높여 “물은 떠 놨냐니까는?” 하고 다시 물으셨어요.
Đúng lúc đó, một cơn gió thổi vụt qua, ông cao giọng hỏi lại: “Ông hỏi là đã múc nước sẵn chưa hả?”
그제야 준서는 불씨 하나가 바람을 타고 옆 산으로 번지면 걷잡을 수 없다는 것을 깨달았어요.
Lúc ấy Junseo mới nhận ra rằng chỉ cần một tàn lửa theo gió bay sang ngọn núi bên cạnh là không thể kiểm soát nổi.
할아버지는 요즘처럼 건조한 봄에는 아예 태우지 말고 고춧대를 모아서 퇴비로 만드는 게 낫다고 하셨어요.
Ông bảo vào mùa xuân khô hanh như dạo này thì tốt nhất đừng đốt gì cả, mà nên gom thân cây ớt lại để ủ phân.
실제로 마을 방송에서도 산불 조심 기간에는 밭에서 불을 피우지 말라는 안내가 매일 나오고 있었어요.
Thực tế, loa phát thanh của làng cũng ngày nào cũng thông báo không được đốt lửa ngoài ruộng trong thời gian phòng chống cháy rừng.
준서는 라이터를 주머니에 넣고 할아버지와 함께 고춧대를 한쪽에 차곡차곡 쌓았어요.
Junseo cất bật lửa vào túi và cùng ông xếp gọn gàng những thân cây ớt sang một bên.
Ông đã hỏi lại Junseo điều gì?
  • Ông hỏi cậu mua bật lửa ở đâu.
  • Ông hỏi cậu đã chuẩn bị nước dập lửa chưa. ✓
  • Ông hỏi cậu đã gom được bao nhiêu thân cây ớt.
  • Ông hỏi khi nào cậu về lại thành phố.
Lý do khiến ông bảo đừng đốt thân cây ớt là gì?
  • Thân cây ớt khó cháy.
  • Thân cây ớt bán được giá cao.
  • Mùa xuân khô hanh có nguy cơ cháy rừng cao. ✓
  • Junseo sợ lửa.
Điều nào đúng với nội dung bài?
  • Cuối cùng Junseo đã đốt hết thân cây ớt.
  • Một đám cháy nhỏ đã thật sự lan sang ngọn núi bên cạnh.
  • Ngay từ đầu ông đã bảo cậu đốt.
  • Làng đã phát loa nhắc không được đốt lửa. ✓

🐗 Cuộc gọi về lợn rừng

산자락 아래에서 옥수수 농사를 짓는 미영 씨는 요즘 밤마다 잠을 설쳐요.
Miyoung, người trồng ngô dưới chân núi, dạo này đêm nào cũng mất ngủ.
산에서 내려온 멧돼지들이 밤사이 밭을 파헤치고 다 익은 옥수수를 먹어 치우기 때문이에요.
Đó là vì lợn rừng từ trên núi xuống, qua đêm đào bới ruộng và ăn sạch ngô đã chín.
참다못한 미영 씨는 군청 농업 부서에 전화를 걸어 피해를 신고하고 울타리 지원을 요청했어요.
Không chịu nổi nữa, Miyoung gọi điện cho phòng nông nghiệp của huyện để báo thiệt hại và xin hỗ trợ làm hàng rào.
그런데 담당자가 서류 이야기만 길게 늘어놓자 미영 씨는 “그래서 언제 와 주시느냐니까요?” 하고 다시 물었어요.
Nhưng khi cán bộ phụ trách cứ nói dài dòng toàn chuyện giấy tờ, Miyoung hỏi lại: “Vậy tôi hỏi là bao giờ các anh mới đến ạ?”
담당자는 그제야 사과하며 다음 날 오전에 직원을 보내 밭을 살펴보겠다고 약속했어요.
Lúc đó cán bộ mới xin lỗi và hứa sáng hôm sau sẽ cử nhân viên đến xem ruộng.
다음 날 나온 직원은 피해 사진을 찍고, 전기 울타리 설치 비용의 일부를 지원받을 수 있다고 안내했어요.
Nhân viên đến vào hôm sau đã chụp ảnh thiệt hại và hướng dẫn rằng cô có thể được hỗ trợ một phần chi phí lắp hàng rào điện.
한 달 뒤 밭 둘레에 울타리가 세워지자 멧돼지 발자국은 눈에 띄게 줄었어요.
Một tháng sau, khi hàng rào được dựng quanh ruộng, dấu chân lợn rừng đã giảm rõ rệt.
미영 씨는 답답해도 포기하지 않고 끝까지 물어본 것이 결국 밭을 지킨 셈이라고 말해요.
Miyoung nói rằng dù bức bối nhưng việc không bỏ cuộc mà hỏi đến cùng rốt cuộc đã giúp giữ được ruộng.
Vì sao Miyoung gọi điện lên huyện?
  • Để báo thiệt hại do lợn rừng gây ra. ✓
  • Để bán ngô cho huyện.
  • Để xin giấy phép săn bắn.
  • Để học cách điền giấy tờ.
Lý do khiến Miyoung hỏi lại cùng một câu là gì?
  • Đường dây điện thoại không tốt.
  • Hàng rào quá đắt.
  • Cán bộ phụ trách không đưa ra câu trả lời cô muốn. ✓
  • Nhân viên đã có mặt ở ruộng rồi.
Ý chính của bài này là gì?
  • Ngay cả hàng rào điện cũng không ngăn được lợn rừng.
  • Điều quan trọng là không bỏ cuộc và yêu cầu đến cùng. ✓
  • Thiệt hại mùa màng nên tự mình giải quyết.
  • Nên trồng cây khác thay cho ngô.

🐚 Khi nào thủy triều lên?

서해안의 한 어촌 마을에서는 썰물 때 넓은 갯벌이 드러나서 조개 캐기 체험을 할 수 있어요.
Ở một làng chài ven biển phía tây, khi thủy triều xuống, bãi bùn rộng lớn lộ ra và du khách có thể trải nghiệm bắt nghêu.
지난 주말 하준이네 가족도 장화를 신고 호미를 든 채 갯벌로 나갔어요.
Cuối tuần trước, gia đình Hajun cũng đi ủng cao su, cầm cuốc nhỏ ra bãi bùn.
입구에서 마을 어민은 밀물이 생각보다 빨리 들어오니 오후 세 시 전에는 꼭 나오라고 당부했어요.
Ở lối vào, một ngư dân trong làng dặn dò họ nhất định phải ra trước ba giờ chiều vì nước lên nhanh hơn họ nghĩ.
조개 캐기에 정신이 팔린 아빠에게 하준이는 “아빠, 물 언제 들어오냐니깐?” 하고 몇 번이나 물었어요.
Hajun hỏi đi hỏi lại bố, người đang mải mê bắt nghêu: “Bố ơi, con hỏi là khi nào nước lên mà?”
그제야 시계를 본 아빠는 벌써 두 시 반이 넘은 것을 알고 깜짝 놀랐어요.
Lúc đó bố mới xem đồng hồ và giật mình khi thấy đã hơn hai giờ rưỡi.
가족이 서둘러 나오는 동안 멀리 있던 바닷물은 어느새 발밑까지 밀려와 있었어요.
Trong lúc cả nhà vội vã đi ra, nước biển vốn ở xa đã tràn tới tận chân lúc nào không hay.
어민 아저씨는 갯벌에서는 물길을 따라 물이 먼저 차오르기 때문에 사람들이 쉽게 고립된다고 설명해 주셨어요.
Bác ngư dân giải thích rằng ở bãi bùn, nước dâng lên trước theo các lạch nước nên người ta rất dễ bị cô lập.
그날 이후 하준이네 가족은 바다에 가면 물때표부터 확인하는 습관이 생겼어요.
Kể từ hôm đó, gia đình Hajun có thói quen hễ ra biển là xem bảng thủy triều trước tiên.
Ngư dân đã dặn dò điều gì ở lối vào?
  • Dặn đừng bắt quá nhiều nghêu.
  • Dặn cởi ủng ra rồi hãy vào.
  • Dặn trẻ con không được vào.
  • Dặn phải rời bãi bùn trước ba giờ. ✓
Lý do khiến Hajun hỏi cùng một câu nhiều lần là gì?
  • Bố mải bắt nghêu nên không trả lời. ✓
  • Bố bị mất đồng hồ.
  • Nước biển đã tới tận chân.
  • Ngư dân bảo Hajun hỏi.
Qua bài này có thể biết được điều gì?
  • Thủy triều chỉ lên vào lúc năm giờ chiều.
  • Gia đình Hajun đã bị mắc kẹt trên bãi bùn.
  • Không thể trải nghiệm bãi bùn khi thủy triều xuống.
  • Ở bãi bùn cần biết trước giờ thủy triều lên. ✓

🚪 Ngôi làng mở cửa

지난여름 저는 대학 친구 지민이를 따라 지민이 할머니가 사시는 산골 마을에 며칠 머물렀어요.
Mùa hè năm ngoái, tôi theo cô bạn đại học Jimin về ở vài ngày tại ngôi làng miền núi nơi bà của Jimin sống.
첫날 밤 잠자리에 들기 전에 보니 대문도 현관문도 활짝 열려 있었어요.
Đêm đầu tiên, trước khi đi ngủ, tôi thấy cả cổng lẫn cửa chính đều mở toang.
도시에서 늘 문부터 잠그던 저는 걱정이 돼서 “할머니, 밤에 문은 안 잠그세요?” 하고 여쭤봤어요.
Ở thành phố lúc nào tôi cũng khóa cửa trước tiên, nên tôi lo lắng hỏi: “Bà ơi, ban đêm bà không khóa cửa ạ?”
할머니는 웃으시며 “문을 잠그느냐니요, 이 동네는 서로 다 아는 사이라 열어 두고 살아요.” 하셨어요.
Bà cười và nói: “Khóa cửa á? Ở làng này ai cũng quen biết nhau nên cứ để cửa mở mà sống.”
다음 날 아침 마당에 나가 보니 누가 두고 갔는지 갓 딴 옥수수 한 바구니가 놓여 있었어요.
Sáng hôm sau ra sân, tôi thấy có một giỏ ngô vừa mới hái, không biết ai đã để lại.
할머니는 옆집 할아버지가 새벽에 밭에 다녀오시는 길에 놓고 가신 거라고 하셨어요.
Bà bảo đó là ông hàng xóm để lại trên đường từ ruộng về lúc sáng sớm.
집을 비울 때도 이웃이 들러 화분에 물을 주고 택배를 들여놓아 준다고 해요.
Bà kể rằng ngay cả khi bà vắng nhà, hàng xóm cũng ghé qua tưới chậu cây và mang bưu kiện vào giúp.
옆집 사람 얼굴도 잘 모르고 사는 저에게 그 열린 문은 오래 생각할 거리를 남겼어요.
Với tôi, người đến mặt hàng xóm còn không biết rõ, những cánh cửa mở ấy đã để lại nhiều điều để suy nghĩ.
Buổi sáng, ngoài sân có gì?
  • Thùng bưu kiện do hàng xóm gửi.
  • Một giỏ ngô vừa mới hái. ✓
  • Mẩu giấy ngắn bà viết.
  • Chậu cây được tưới đẫm nước.
Vì sao ban đêm bà không khóa cửa?
  • Vì cửa hỏng nên không khóa được.
  • Vì bà làm mất chìa khóa.
  • Vì người trong làng đều biết rõ nhau. ✓
  • Vì ban đêm cũng hay có khách đến.
Điều nào đúng với nội dung bài?
  • Hàng xóm trong làng này trông nom nhà cửa cho nhau. ✓
  • Người này từng sống ở quê rồi chuyển lên thành phố.
  • Đêm nào bà cũng khóa cửa cẩn thận.
  • Ngô là do bà tự tay đi hái.

🗣️ Cậu là người Seoul à?

우석 씨는 올여름 목공 일을 배우려고 경상북도의 한 작은 마을로 귀촌했어요.
Mùa hè năm nay, Wooseok chuyển về một ngôi làng nhỏ ở tỉnh Gyeongsangbuk-do để học nghề mộc.
그가 세 들어 사는 집의 주인 할아버지는 매일 저녁 마을 회관에 들러 이웃들과 이야기를 나누세요.
Ông chủ căn nhà anh thuê tối nào cũng ghé nhà văn hóa của làng để trò chuyện với hàng xóm.
어느 날 회관에서 돌아온 할아버지가 웃으며 “다들 자네가 혹시 서울 사람 아니냐더군.” 하고 말씀하셨어요.
Một hôm, từ nhà văn hóa về, ông cười nói: “Mọi người cứ hỏi có phải cậu là người Seoul không đấy.”
우석 씨의 말투가 마을 사람들과 달라서 어르신들이 그를 궁금해하셨던 거예요.
Vì giọng nói của Wooseok khác với người trong làng nên các cụ tò mò về anh.
사실 우석 씨도 처음에는 어르신들의 사투리를 절반밖에 알아듣지 못해 대화가 자주 끊겼어요.
Thật ra ban đầu Wooseok cũng chỉ nghe hiểu được một nửa phương ngữ của các cụ nên cuộc trò chuyện hay bị ngắt quãng.
그래서 그는 모르는 표현이 나올 때마다 할아버지께 뜻을 여쭤보고 직접 따라 말해 보았어요.
Vì vậy, mỗi khi gặp cách nói không hiểu, anh lại hỏi ông nghĩa là gì rồi tự mình nói theo.
몇 달이 지나자 우석 씨가 어설픈 사투리로 인사를 건네면 어르신들이 크게 웃으며 반겨 주셨어요.
Vài tháng sau, mỗi khi Wooseok chào hỏi bằng thứ phương ngữ vụng về, các cụ lại cười lớn và vui vẻ đón anh.
이제 우석 씨는 말투를 배우는 것이 곧 마을 사람들의 마음에 다가가는 길이라고 느끼고 있어요.
Giờ đây Wooseok cảm thấy học cách nói chuyện chính là con đường đến gần trái tim người trong làng.
Các cụ trong làng tò mò điều gì?
  • Wooseok đã kết hôn chưa.
  • Wooseok có phải người Seoul không. ✓
  • Khi nào Wooseok sẽ rời đi.
  • Tiền thuê nhà hằng tháng của Wooseok là bao nhiêu.
Lý do các cụ hỏi như vậy là gì?
  • Wooseok hay kể chuyện Seoul.
  • Wooseok mặc quần áo kiểu thành phố.
  • Giọng nói của Wooseok khác với người trong làng. ✓
  • Ông chủ nhà nói anh là người Seoul.
Ý chính của bài này là gì?
  • Ở nông thôn chỉ nên dùng tiếng chuẩn.
  • Phương ngữ quá khó học.
  • Khó học nghề mộc ở nông thôn.
  • Học cách nói chuyện là cách để mở lòng người. ✓
Luyện tập miễn phí trong ứng dụng →